Người làng Chanh nói với nhau bà Nhu điên mất rồi, không điên thì cũng dở người, không dở người cũng té giếng. Họ rút ra một quy luật, đàn bà mà sau tuổi băm chưa chồng thì tính nết thay đổi, nhiều khi thay đổi đến người nhà cũng không ngờ được. Dù trước đấy có dịu dàng, thùy mị gì đi nữa, cũng sẽ trở tính hay cáu gắt, hờn giận vô cớ, sớm nắng chiều mưa. Càng lớn tuổi càng nặng thêm…
Mà bà Nhu lái đò nay đã không còn là người phụ nữ lớn tuổi nữa, đã thành bà già rồi. Già rồi! Người làng Chanh trên sáu mươi có khi đã con đàn, cháu đống, đã được gọi là cụ: cụ ông, cụ bà…
Rõ khổ, không hiểu sao cái bà Nhu vẫn bám lấy con đò, cái bến đò ngang, dù đã mấy chục năm nay có ai qua sông ở đấy nữa đâu. Lối xuống bến, lên bến um tùm cỏ dại, phất phơ mấy chòm lau trắng…Có lẽ duy nhất chỉ còn in dấu chấn của chính bà Nhu lên xuống.
Dù rằng ngày xưa, hồi chiến tranh, đấy từng là một bến đò ngang…
*
Vâng, nơi đây từng là một bến đò ngang thời chiến tranh. Ngày thường im ắng nhưng khi chiều buông xuống, khi đêm đến, nhất là những đêm có ánh trăng mờ mờ, những người lính như mọc từ dưới đất lên thành cả binh đoàn, rầm rập kéo đến bến đò chờ qua sông. Họ còn trẻ, ba lô nặng trĩu vai, súng trên tay, mắt sáng quắc như sao. Có những chân súng cối, súng đại liên phải hai người khênh. Họ ào ào xuống đò, qua sông, rồi biến mất trong màn đêm. Cũng có một người lính đi lẻ gọi đò qua sông vào ban ngày. Họ là những người lính vì bị bệnh phải nghỉ lại dọc đường, hay mới rời bệnh viện tiền phương, cố đuổi theo cánh quân phía trước.
Đôi khi, ở hướng ngược lại vẫn có những người lính qua đò: họ được điều đi học, đi công tác, hay là một bệnh binh phải chuyển gấp về tuyến sau điều trị…Cũng có những người lính gọi đò với bộ mặt bần thần…Một người lính nhớ mẹ, nhớ quê, khiếp sợ trước sự ác liệt chiến trường phía trước, bỏ ngũ. Anh ta đến bến đò vẫn được chở qua sông…Qua sông, nhưng ít hôm sau lại nghe tiếng người lính quay lại gọi đò, ngược sang bến sông bên kia.
Ngày đó bà Nhu chỉ là nàng thiếu nữ Nhu 17 tuổi, đã tham gia chèo đò ngang chở quân trên bến sông này. Không chỉ có đò của thiếu nữ Nhu mà có hàng chục con đò như vậy, ngày tản mát giấu trong rừng, trong khe, trong suối phủ lá ngụy trang để không bị phát hiện. Đêm tập trung xuống bến đưa quân qua. Thực ra, bến cũng không xác định, thay đổi nhiều lần trong chiến tranh. Lâu lâu, bến đò lại bị lũ máy bay trinh thám phát hiện, bầy phản lực bu đến dội bom, họ lại phải dời qua bến mới.
Ở đâu trên con sông Lu này cũng từng là bến thuyền.
Hết chiến tranh, những người lái đò ngang hầu hết đã rời bến sông đi làm việc khác, bà Nhu cũng được giao nhiệm vụ mới, nhưng bà vẫn xin tiếp tục nghề lái đò trên sông. Rồi người ta xây cầu, người qua sông không ai đi dò ngang nữa, bà Nhu vẫn không lên bờ, bà chạy đò dọc theo sông Lu ai thuê gì thì chở. Tối tối bà vẫn về neo thuyền ở bến đò ngang ngày trước.
*
Mọi người phỏng đoán cô Nhu xinh đẹp đang chờ một người lính trở về. Một người lính qua sông đã hứa hẹn điều gì đó trong chiến tranh. Sau hòa bình năm năm, thương cô, ai cũng khuyên đừng chờ nữa. Người lính đó đã hi sinh rồi, hoặc người lính đó đã quên lời hứa ngày nào, chứ còn sống, còn nhớ, người đó đã đến tìm cô. Không thể cứ chờ đợi hão huyền như vậy nữa, con gái có một thời hương sắc, đừng để nó qua đi. Mà nhìn xem, đám cô Luyến, Lệ, Uyên…ngày trước cùng chèo đò ngang, đứa nào cũng đã yên bề gia thất. Xấu gái như cái Thu, luôn bị trêu là cai lu biết đi, cũng đã có chồng hai con trai…Mặc ai nói gì thì nói, ngày ngày cô Nhu chèo đò đi chở hàng, qua bến sông khác chở đò ngang, nhưng đêm đến vẫn lại về bến Bằng Lăng, cắm sào ở đấy.
Đêm đêm, cô Nhu ngủ ngay trên con đò, giữa lòng sông.
*
Cũng có một lần cô Nhu đã bước lên bờ…
Thân con ông Hòa trong làng về nghỉ phép, nghe chuyện người làng nói về cô Nhu nên không đi theo cây cầu mới xây qua sông về làng, mà tìm đến bến đò ngang. Lâu rồi, cô Nhu mới được đón một người khách qua sông, một người lính trở về. Người lính đeo một cái cặp bên hông, nơi thắt lưng trể xuống khẩu súng côn. Một sỹ quan về phép. Khi rời bến đò, sỹ quan Thân nại cớ có nhiều đồ nên nhờ cô lái đò mang giúp về nhà. Đấy là lần hiếm hoi, cô Nhu rời con đò, neo lại nó bên bờ sông đi về làng.
Gia đình sỹ quan Thân tối đó giữ bằng được cô Nhu ở lại chơi. Cô Nhu định ra về, nhưng ngay lúc đó, có bốn cô gái trong làng vừa đến, kéo luôn cô Nhu vào nhà. Đó là một đêm rất vui cô Nhu ăn bánh, trò chuyện, ca hát cùng người làng. Khi cô Nhu ra về, sỹ quan Thân đưa tiễn cô đến tận bến đò. Hai người ngồi trên bờ sông trò chuyện rất lâu.
Người làng vun vào, sỹ quan Thân thì mê cô Nhu mất rồi: xinh đẹp, hiền dịu, tuy khác thôn nhưng cũng là dân làng Chanh, biết nhau từ hồi nhỏ. Mà cô Nhu mỏng người hay hạt, hát hay, giọng như oanh vàng không mê mới lạ. Người làng ai cũng mong họ thành đôi. Cuối cùng, sau nhiều ngày nếm mật, ăn sương ở bến đò, sĩ quan Thân đã đưa được người mình yêu đến phòng đăng ký kết hôn của xã.
Vào ngày cưới, cô Nhu xin ra bến neo lại con đò, nhưng mọi người chờ mãi không thấy cô không quay lại. Khi sĩ quan Thân ra bến đò, thấy cô Nhu đã thay áo cưới, gấp lại để trên bờ, còn cô ngồi trên con đò neo giữa dòng sông.
Sĩ quan Thân nài nỉ thế nào cô Nhu vẫn không chịu lên bờ. Anh phải cầu viện binh. Gần như cả làng Chanh kéo nhau ra sông Lu nài nỉ, thuyết phục cô Nhu. Người dì còn vái lạy như tế sao, mong cô Nhu nghĩ lại, phận gái được chỗ nương nhờ như sỹ quan Thân đừng may mắn, là phúc bảy đời rồi đấy! Cô Nhu không nói gì, cứ thu mình trên con đò, con đò thì nằm giữa sông Lu. Qua mấy ngày, sỹ quan Thân cảm ơn người làng, yêu cầu người làng rời khỏi bến sông, để lại anh với cô Nhu.
Sỹ quan Thân dựng một cái lán, rồi căng võng nằm đấy chờ cô Nhu đổi ý, đưa đò vào bờ…
Chờ khoảng một tuần, cô Nhu vẫn án binh bất động. Anh Thân có thể chờ thêm nhưng e ngại cô Nhu cứ ở giữa sông không còn gì để ăn sẽ nguy hiểm cho sức khỏe, anh Thân đành lặng lẽ, cuốn võng, rời đi.
Sỹ quan Thân trả phép, trở lại đơn vị. Hơn10 năm sau, anh trở về quê. Trở về với người vợ và hai đứa con nhỏ…
*
Thời gian cứ thế trôi qua. Không còn ai để tâm đến bà Nhu lái đò ngang nữa. Những người lớn tuổi làng Chanh lần lượt ra đi. Đám trẻ sinh sau ngày hòa bình, cũng đã thành ông này bà nọ. Lớp trẻ mới lớn hầu như không biết gì nhiều về chiến tranh, trong mắt chúng bà Nhu chỉ là một bà già không chồng, không con, tính tình lẩm cẩm…
Đôi khi, người làng mới nhớ đến dưới bờ con sông Lu, có một bà già lớn tuổi sống ở đấy.
Bà Nhu vẫn ở đấy trên con đò ngang, dù bến sông đã mấy chục năm nay không có một ai qua, chỉ um tùm cỏ dại, phất phơ mấy bông lau trắng. Ngày bà đi chở thuê, đêm về bà cắm đò ngủ giữa sông.
*
Một đêm bỗng có tiếng gọi: “Đò ơi!”. Tiếng một người đàn ông khàn đục. Bà Nhu không tin vào tai mình, bao nhiêu năm, giữa đêm lại có tiếng gọi đò ở bến sông này.
Cái tiếng khàn đục vang lên lần nữa: “Đò ơi! Ơi đò!”.
Bà Nhu tỉnh giấc, gạt nước sông rửa mặt, rồi khum tay:
“Đò đây!”.
Người đàn ông lại gọi, giọng lớn hơn, vang hơn:
“Ới đò!”
“Chờ chút! Qua chừ!”
Vắt cái khăn quấn cổ qua vai, bà Nhu cầm lấy tay chèo, vội vàng quẫy nước đưa đò qua. Trên bến dưới ánh trăng mờ, hiện ra một người đàn ông mặc bộ đồ lính cũ, tay phải vẫy, bên trái ống tay áo buông thõng xuống. Người đàn ông cụt một tay.
Người đàn ông lập cập mãi, bà Nhu đưa tay giúp mới bước được lên đò.
Bà Nhu bắt chuyện:
“Bác qua đò đi đâu?”
“Tôi không đi đâu. Tôi qua bên kia…”
Rõ dở hơi, đã lên đò ngang thì tất sẽ qua bờ bên kia.
“Bác đi công việc gì giữa đêm hôm thế này?”
“Tôi không có công việc gì. Tôi chỉ đi tìm một người!”
“Bác tìm ai?”
“Một cô gái. Cô gái lái đò!”
“Tên cô ấy là gì?”
“Tôi không nhớ. Tôi không nhớ tên bến đò, ở đâu? Tôi không nhớ tên cô ấy”
“Rõ khổ- bà Nhu lẩm bẩm -Tại sao bác đi tìm cô lái đò?”
“Vì tôi có hẹn cô ấy sau chiến tranh, tôi sẽ đi tìm”
“Chiến tranh đã kết thúc 50 năm rồi mà bác!”
Người đàn ông bần thần:
“Sao kia. 50 năm rồi à…50 năm?”
“Dạ. Kết thúc 50 năm!”
Bà Nhu thì thầm nhắc lại:
“Dạ! Đã 50 năm, là lâu …rất …lâu rồi…”
Người đàn ông nhìn gợn sóng trên sông:
“50 năm. Như vậy, tôi đã đi tìm 50 năm ư…”
“Không nhớ tên bến đò, không nhớ tên cô gái, vậy bác tìm cách gì?”
“Tôi cứ đi, thấy con đò nào trên sông là tôi gọi…Có đò ngang là tôi sang. Tôi hỏi người lái đò về cô ấy…Nhưng chưa bao giờ gặp”
“Làm sao bác còn nhận ra cô ấy?”
“Tôi không nhận ra. Nhưng cố ấy sẽ nhận ra tôi…”
“Vậy, bác đã qua bao nhiêu bến đò ngang từ ngày ấy?”
“Nhiều…nhiều lắm… Có lẽ, tôi đi hàng ngàn bến đò ngang rồi!”
“Bác đi làm gì nữa 50 năm rồi…Đã đến lúc nghỉ ngơi. Tìm thấy thì đã thấy rồi…”
“Bà nói giống như bác sỹ nơi trại điều dưỡng vậy. Họ luôn nói vậy: Còn tìm làm gì! Họ không cho tôi đi, tôi cứ phải trốn…”.
“À, ra thế, bác ở Trại điều dưỡng. Bác trốn đi, rồi đi chán lại quay về”
“Không. Tôi đâu có quay về. Tôi đâu có muốn quay về Trại điều dưỡng. Tôi cũng không nhớ nó ở đâu để quay về. Tôi cứ đi, rồi họ tìm thấy tôi, họ lại bắt tôi về đó. Tôi đâu muốn về đó, tôi chỉ muốn đi tìm cô gái lái đò ngang”
*
Chiếc đò vẫn trôi trên sông. Bà Nhu hình như đã nhận ra điều gì…
“Vậy, bác là thương binh?”
“À, có một quả bom nổ đâu đó gần tôi. Tôi tỉnh lại trong bệnh viện, họ cắt của tôi một cánh tay. Họ đã mổ vết thương trên đầu tôi và bó lại. Họ bảo tôi đã ngủ gần một tháng mới tỉnh dậy…”
“Bác tỉnh dậy và không nhớ gì sao?”
“Tôi không còn nhớ cả tên tôi. Bây giờ thì tôi không có tên. Ở bệnh viện họ có đặt cho tôi một cái tên để gọi mà tôi cũng không nhớ. Tôi không nhớ gì hết: không nhớ quê, không nhớ tên cha, mẹ… Các bác sỹ hỏi tôi mãi, nhưng tôi không nhớ…Nhưng tôi nhớ, tôi có hẹn với một cô lái đò nên tôi đi tìm…”
*
“Hẹn sẽ gặp sau chiến tranh?”
“Phải. Tôi hẹn hết chiến tranh, tôi sẽ quay lại bến đò tìm cô ấy”
“Nếu gặp lại cô gái lái đò anh có nhận ra không?”
Bà lái đò ngước nhìn người thương binh và đột ngột thay đổi cách xưng hô.
“Không.Tôi không thể nhận ra cô gái ấy. Hồi ấy, ban đêm không nhìn rõ mặt. Mà có nhìn rõ mặt tôi cũng không còn nhớ nữa. Họ nói mảnh trái phá đã gọt đi một phần não của tôi”
“Không nhớ gì. Thế làm sao gặp lại nhận ra cô gái ấy?”
“À…thì…”
“Cô ấy giờ cũng già lắm rồi nhỉ?”
“Già ư?”
“Thì chiến tranh kết thúc đã hơn 50 năm, khi bác gặp cô ấy còn chiến tranh! Khi bác và cô ấy gặp nhau: bác hai mươi, cô ấy mới mười bảy…”
“À, hai mươi. Ồ, hồi ấy tôi hai mươi, cô gái lái đò mười bảy. Năm mươi năm…”
“ Năm mươi năm. Bác cũng đã hơn 70 rồi đấy, cô ấy chắc cũng gần như thế!”
“Tôi cứ nghĩ cô gái lái đò còn trẻ…”
“Sao còn trẻ khi bao nhiêu năm đã trôi qua. Cô ấy mà cưới chồng, giờ có cháu, chắt rồi đấy! Cô ấy đã thành bà cụ lái đò rồi…Con sông ngày xưa, anh qua có rộng không? Nước có chảy mạnh không?”
“Có nước…nước xiết”
“Sao nhớ nước xiết?”
“Vì tôi nhớ bị ngã cuốn đi. Cô ấy đã cứu tôi”.
“Vậy, đến bến đò ngang nào, gặp người lái đò anh nên hỏi xem họ từng cứu ai khi đưa đò qua sông không?”.
“Vâng, tôi vẫn hỏi. Nhưng chưa gặp cô gái lái đò nào nói rằng đã cứu một người lính qua sông. Đàn ông thì có…”.
“Rồi khi chia tay, anh có tặng gì cho cô gái lái đò không?”
“Không nhớ…”
“Một chiếc khăn?”
“Không nhớ…”
“Một cây bút?”
“Không nhớ…”
“Một chiếc lược chải đầu?”
“Chiếc lược ư? Không nhớ. Nhưng tôi từng có một chiếc lược”
“Chiếc lược sừng trâu chăng?”
“Có lẽ là sừng trâu?”
“Màu đen phải không?”
“Không nhớ…Có lẽ màu đen…”
“Lược sừng trâu sẽ có màu đen. Anh đã mua ở chợ quê chăng?”
“Có lẽ, tôi mua ở chợ quê. Nhà tôi…nhà tôi gần… gần chợ quê…”
Bà Nhu dừng mái chèo, con thuyền vẫn nhẹ trôi từ từ trên mặt nước lấp lánh đêm hè. Bà lấy từ trong túi áo ra một vật quấn trong miếng vải nhung. Một chiếc lược màu đen, đã bóng lên như được mài cả trăm năm bởi các ngón tay, tóc và mồ hôi.
Bà đưa cái lược cho người đàn ông.
“Có giống cái lược này không?”
Người thương binh cầm chiếc lược, đưa lên hướng chút ánh trăng vàng lên mặt sừng. Cứ lặng im nhìn. Hết nhìn lại mâm mê trên tay.
“Tôi không nhớ…Hình như…”
“Anh có tặng cho cô gái chèo đò cái lược lúc chia tay không?”
“Hình như…”
*
Con đò đã cập bến.
Một cái bến đất, chỉ là hõm đất bờ sông bị lẹm vào bên hữu ngạn dòng sông.
Bà Nhu chống sào giữ con đò rồi nhảy lên bờ, đưa tay ra đón người đàn ông. Phải một lúc khá lâu người đàn ông mới bước được lên bờ. Tay người đàn ông vẫn giữ cái lược sừng trâu…
“Nếu anh đã qua đây, đã từng đi con đò ấy, vào một đêm trăng chiến tranh cách đây 50 năm, anh sẽ bước chân theo lối này để lên bờ. Anh sẽ đi đến cây bằng lăng hoa tím kia.”
“Cây bằng lăng hoa tím!”
Người đàn ông lẩm nhẩm mắt nhìn lên bờ sông: Ở đấy, có một cây bằng lăng hai vòng tay người ôm đang trổ hoa tím ngắt.
“Nhiều lần, họ định chặt cây bằng lăng này. Nhưng tôi đã tìm cách giữ lại. Không dễ đâu. Vùng này không còn cây lớn nào thoát được búa của dân buôn gỗ. Nhưng cây bằng lăng này thì vẫn còn…”.
Bà Nhu và người đàn ông đã bước đến bên cây bằng lăng. Có thể nhìn thấy lớp vỏ sù sì của nó có những chỗ đã bị mục, đã bị bong ra và khô.
Người đàn ông hình như nhớ ra điều gì, nên mắt cứ nhìn vào chiếc lược trên tay, nhìn cây bằng lăng.
Bà Nhu nhìn người đàn ông với đôi mắt trìu mến:
“Nếu anh đã từng đi đò cô gái ấy qua bến sông này, thì anh và cô gái ấy đã chia tay nhau ở đây. Anh đã ôm hôn cô ấy. Đã ôm hôn. Hôn lên môi… Và…tên anh là Tâm”
Người đàn ông, chăm chú nhìn bà Nhu, rồi bất ngờ:
“Nhu. Em Nhu…”
“Anh Tâm!”
Bà Nhu bước đến ngã vào cánh tay còn lại của người đàn ông.
*
Người đàn bà nhìn xuống sông, thấy con thuyền bị gió thổi bạt ra, trôi theo dòng nước. Người đàn bà kêu lên:
“Ơi đò! Đò ơi…”
Nhưng bà vẫn đứng yên trong vòng tay ôm của người đàn ông.
Sa Lung 28 tháng 2 năm 2025
ƠI ĐÒ – Truyện ngắn của Đặng Chương Ngạn