Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kêu oan ức lòng chồng
Bốn xin vẻn vẹn sở công lệnh này.
I
Thi Sách chết rồi.
Ba ngày trước chàng tham dự bữa tiệc chiêu đãi do Tô Định tổ chức tại dinh Thái thú. Khi ra đi, người còn mạnh khoẻ. Vậy mà khi về chàng chỉ là một cái xác không hồn.
Những người hầu thân tín đưa chàng về. Họ nói trong bữa tiệc chàng ăn rất ít, hầu như không đụng đũa vào các món sơn hào hải vị ê hề trên bàn. Riêng cốc rượu mà Thái thú đích thân rót mời thì chàng không thể từ chối, buộc phải uống cạn.
Tiệc tan, trên đường về chàng kêu đau bụng, người lảo đảo trên mình ngựa. Gia nhân muốn đi tìm thầy thuốc nhưng chàng lắc đầu, một mực đòi về nhà. Vì chàng không còn có thể ngồi vững, họ phải lấy dây ghì lại, rồi thúc ngựa chạy thật nhanh. Khi ta từ trong nhà chạy vội ra đỡ, chàng đã trút hơi thở cuối cùng từ bao giờ. Không kịp có lấy một lời trăn trối.
Rồi mọi thứ diễn ra sau đó như trong một lớp sương mù. Ta làm tất cả những việc người ta bảo để chàng có được một đám tang xứng với tiếng tăm và địa vị của chàng. Rất nhiều người đến tiễn đưa. Họ chia buồn với ta. Nhưng ta chỉ đứng đó, mắt ráo hoảnh, lặng lẽ nhìn họ.
Em Nhị thì thầm vào tai ta: “Chị cứ khóc đi cho nhẹ lòng!” Nhưng ta không thể khóc. Nước mắt chưa kịp chảy ra ngoài đã bị hút cạn, bốc hơi đi mất.
Thi Sách chết và ta đã chôn chàng.
Và bây giờ ta ngồi đây, thu mình trong chiếc áo lông ngỗng. Xung quanh tối đen, ngọn đèn đêm đã lụi từ bao giờ. Gió đông bắc thổi hiu hắt, mang theo cái giá buốt mùa đông.
Ta cứ ngồi vậy mà nghĩ: sao ta lại phải đau đớn đến vậy vì cái chết của chàng?
Ai mà chẳng phải chết?
Từ khi có nhận thức đến giờ, ta đã chứng kiến biết bao nhiêu cái chết. Mảnh đất này đã nuôi dưỡng chúng ta nhưng cũng đang hút dần sinh mệnh của những người sống trên đó.
Tất cả là vì tô thuế. Vì cái bảng danh sách cống phẩm mà triều đình phương Bắc ấn định – không cần biết năm đó được mùa hay mất mùa, không cần biết thiên tai hay ôn dịch, ngoài việc danh sách phải được điền đủ. Mang trên vai những gánh nặng đó, từ lúc là một đứa trẻ cho đến khi già đi – mà cũng có khi chưa kịp già – người ta dễ ngã gục và chết lắm.
Người ta chết vì đói, vì không còn gì để ăn sau khi đóng đến hạt thóc cuối cùng. Người ta chết vì voi giày, hổ vồ, sốt rét khi phải vào rừng tìm sừng tê, ngà voi, trầm hương. Người ta chết vì lao lực, đuối nước, làm mồi cho quái vật do phải lặn sâu dưới biển tìm ngọc trai, san hô, đồi mồi.
Đó là cái giá mà triều đình phương Bắc bắt chúng ta phải trả để được sống trên mảnh đất của chính mình.
II
Gia đình ta là quý tộc địa phương. Cha ta là Lạc tướng đất Mê Linh, mẹ ta vốn dòng dõi Hùng Vương. Ta với em Nhị lớn lên dưới sự chỉ bảo ân cần của mẹ – người đàn bà cai quản trang viên rộng lớn với vẻ ung dung điềm tĩnh, mỗi lời nói nhẹ nhàng mà ai cũng chấp hành nghiêm túc. Bà dạy chị em ta viết chữ, đánh kiếm, bắn cung, cưỡi ngựa, đi săn, đặt bẫy.
Em Nhị – mà theo lời mắng yêu của mẹ thì đáng lẽ phải là con trai mới đúng – rất hiếu động. Em hay bày trò, luôn trèo lên cành cây cao nhất, bơi ra chỗ nước sâu nhất, nhận những nhiệm vụ khó khăn nhất – và làm tất cả với tiếng cười giòn giã. Tiếng cười khiến ta bất giác cười theo, dù ta vẫn có tiếng là đạo mạo nghiêm nghị.
Em Nhị từng thắc mắc: “Chị cười xinh thế, sao chị không hay cười?” Ta trả lời là không biết. Và chua thêm: “Nhà có một đứa nghịch ngợm và tếu táo như em là đủ rồi – có hai đứa chắc cha mẹ sẽ phiền não không chịu được mất.”
Em Nhị hay cười nhưng cũng mau nước mắt.
Ta nhớ có lần chúng ta ghé thăm một ngôi làng bị quan quân nhà Hán tàn sát vì nghi có kẻ phản loạn. Từ đầu đến cuối làng tan hoang, lửa vẫn còn cháy âm ỉ. Trong lúc cùng những người khác bủa đi xung quanh tìm người sống sót, chị em ta phát hiện dưới một gốc cây xác hai mẹ con nằm ôm nhau – đứa con chừng ba tuổi đang rúc vào lòng mẹ ẩn náu, mẹ choàng tay che chở cho con.
Em Nhị đứng khóc nức nở, bàn tay xoắn vặn vào nhau vì đau thương và căm hận.
Còn ta – ta lặng lẽ nhặt dưới đất một cái áo tơi cũ nát, trở lại, quỳ xuống, nhẹ nhàng phủ lên hai mẹ con. Khi tay ta chạm vào mái tóc dài người mẹ, ta nhận ra cô còn trẻ lắm – trẻ hơn mẹ ta nhiều. Tóc cô còn đen, chưa có sợi bạc nào.
Em Nhị thấy ta làm vậy cũng làm theo. Hai chị em nhặt nhạnh những thứ để đậy điểm các xác chết trước khi chúng ta có thể chôn cất họ trong một ngôi mộ tập thể.
Hồi bé ta đã có lần hỏi mẹ: “Triều đình phương Bắc ở đâu mà chúng ta phải nhất nhất nghe lời họ?”
Mẹ trầm ngâm rất lâu trước khi trả lời: “Triều đình phương Bắc ở xa lắm. Quân đội của chúng được trang bị giáo sắc áo giáp dày. Chúng kéo sang đây đàn áp từ cả trăm năm trước, chúng ta không địch lại được, đành chịu quy phục họ.”
Mẹ thở dài, rồi nói thêm: “Người phương Bắc không chỉ giỏi đánh nhau – chúng còn giỏi cai trị. Chúng hút cạn máu mủ dân ta, làm thui chột ý chí đấu tranh. Những dòng dõi Lạc tướng, Lạc hầu như gia đình mình giờ chỉ muốn sống yên ổn, an phận hưởng chút quyền lợi trong các ấp trại của mình.”
Ta hỏi tiếp: “Vậy chúng ta cứ cam chịu mãi như thế này sao?”
Mẹ đăm đăm nhìn ta, rồi hỏi lại chính ta câu đó.
Ta khẳng khái trả lời rằng không.
Và thì thầm vào tai mẹ điều mà ta đã phát hiện ra: “Lính phương Bắc đều là con trai, họ nghĩ chỉ con trai mới biết chiến đấu. Nhưng chúng ta đây thì con gái cũng chiến đấu giỏi không kém. Chính mẹ đã dạy chị em con. Để đánh đuổi họ, chúng ta sẽ kêu gọi cả nam lẫn nữ cùng đứng lên chiến đấu. Kẻ thù sẽ phải sợ và tháo chạy về phương Bắc.”
Ta không bao giờ quên ánh mắt vụt sáng của mẹ khi nghe ta nói vậy.
III
Có tiếng chim đêm khắc khoải phá tan sự tĩnh mịch. Ta đứng dậy, bước ra hiên, ngồi xuống bậc thềm đá lạnh, dựa vào chiếc trống đồng mà người chủ tế đã đánh những tiếng buồn não ruột trong đám tang của Thi Sách.
Người ta nói tiếng trống sẽ đưa linh hồn người đã khuất đoàn tụ với tổ tiên. Thân xác người chết nằm dưới đất nhưng linh hồn sẽ bay lên trời.
Ta ngước mắt nhìn lên khoảng không thăm thẳm. Trời không trăng nhưng sao thì nhiều chi chít. Ta tự hỏi có phải tổ tiên đã khuất đang trú ngụ ở trên những ngôi sao kia vẫn luôn theo dõi chúng ta. Nhưng liệu họ nghĩ gì khi thấy hậu nhân của mình đã mất đi quyền làm chủ.
Tiếng trống đồng lẽ ra phải ngân nga rộn ràng trong các lễ hội mùa xuân giờ chỉ có thể bật ra những thanh âm nức nở buồn bã trong đám tang với sự cho phép của kẻ đang thống trị mảnh đất này.
Âu Lạc, cái tên đó giờ không còn ai được phép nhắc đến nữa. Thay vào đó là Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam – những cái tên do người khác đặt, chia nhỏ mảnh đất của tổ tiên ta ra như người ta chia phần thức ăn trên mâm cho dễ gắp.
Ta tự hỏi: tổ tiên ta, những người đã dạy dân trồng lúa, đã đánh lui giặc Ân, đã truyền ngôi mười tám đời gìn giữ cơ nghiệp Văn Lang có hình dung được không, rằng con cháu mình sau này sẽ phải cúi đầu cam chịu, phải nộp đi những thứ mình làm ra, phải sống mỏi mòn trong kiếp nô lệ.
Ta nghĩ là không. Họ không thể hình dung ra cảnh đó.
IV
Thi Sách đã chết.
Ta cố xua đi cái khuôn mặt tím tái vì bị đầu độc khi ta nhìn chàng lần cuối. Ta muốn lưu lại hình ảnh khôi ngôi của chàng buổi ban đầu gặp gỡ.
Lần đó, gia đình chuẩn bị đón vị hôn phu đã được chọn sẵn cho ta. Em Nhị cứ nhìn ta khúc khích cười khiến ta như phát điên. Ta lặng lặng đeo kiếm, mang cung tên đi săn cho khuây khoả. Mẹ không cản nhưng dặn đừng đi quá xa vì trời sắp có dông.
Ngựa phi nước kiệu, các muộn phiền của ta cũng dần tiêu tan. Mải rượt theo một con lợn rừng, ta đã cách nhà khá xa. Giống lợn rừng bao giờ cũng dai sức, dù bị thương nhưng không bao giờ gục ngay.
Khi ta đắc thắng rút mũi tên ra khỏi xác con lợn, loay hoay tìm cách đưa nó lên lưng ngựa thì cảnh vật xung quanh bỗng tối sầm. Mưa bắt đầu rơi lộp độp. Rồi phút chốc mưa ào xuống như trút.
Ta vội vàng bưng lợn lên mình ngựa. Bất chợt một tiếng sấm to khiến con ngựa giật mình, nó vùng lên rồi phóng vụt đi. Con lợn rơi lại, nằm giơ cả bốn chân giữa đám bùn. Ta đành cười khổ mà bỏ mặc cả hai. Con ngựa tinh khôn ắt sẽ tự tìm được đường về nhà, còn con lợn, nó sẽ nằm im đó đợi ta quay lại.
Ta rảo bước về phía chân núi, tìm một cái hang tránh mưa. Thứ cần nhất lúc này là lửa. Mưa to sấm chớp ta không sợ. Đây không phải lần đầu tiên ta mắc mưa và không về được. Ta chỉ bực khi hình dung ra bộ mặt đắc thắc của em Nhị cùng câu nói kéo dài đáng ghét: “Ai bảo chị cơ…”
Ta căng mắt nhìn xuyên qua màn mưa dày, chốc chốc lại phải vén lọn tóc sũng nước ra sau. Bỗng có một ánh lửa le lói xuyên thủng màn mưa khiến ta chú ý. Có một người nữa cũng đi bị mắc kẹt giữa rừng bởi cơn giông giống ta.
Ta vội chạy đến đó và phát hiện ra trong một chiếc hang có trần cao rộng rãi, một chàng ra dáng thư sinh đang ngồi say sưa đọc những tấm thẻ tre. Ta bước vào, chàng không nhận thấy, vì bước chân ta rất nhẹ mà trời thì đang mưa rất to. Chỉ khi ta tiến đến, đứng ngay trước mặt thì chàng mới phát hiện ra, giật mình ngẩng lên và lúng túng chào ta.
Nếu là em Nhị, hẳn bộ dạng luống cuống ấy hẳn đã phá lên cười. Nhưng ta thì không. Ta nghiêm nghị chào và ngỏ ý muốn trú nhờ đợi cho đến khi mưa tạnh.
Chàng trai lúng búng nói mấy câu sẵn lòng rồi nhận thấy nước đang ròng ròng chảy khắp người ta liền mời ta ngồi cạnh đống lửa để hong khô quần áo. Chàng hấp tấp lục lọi trong tay nải lấy ra một chiếc khăn lụa để ta lau mặt.
Ta ngồi xuống bên đống lửa đối diện chàng. Dùng chiếc khăn chàng đưa thấm khô mái tóc, ngắm khuôn mặt vuông vắn, sống mũi cao, đôi mắt sáng cùng vẻ quýnh quáng, vụng về của chàng mà không khỏi cười thầm. Hẳn chàng hay bất cứ ai ở hoàn cảnh này sẽ coi ta là một yêu nữ đi hù doạ người và đang sợ chết khiếp.
Nhưng ta đã nhầm – chàng lúng túng vì không giúp gì nhiều được cho ta, sợ quần áo ướt sẽ làm ta bị ốm.
Qua lời giới thiệu của chàng ta biết chàng chính là Thi Sách, đang trên đường đến nhà ta nhưng bị mắc mưa. Khi ta có ý mỉa mai rằng một công tử con nhà quyền quý đi một mình mà không sợ ư, chàng đã nghiêm nghị nhìn thẳng vào mắt ta: một cô nương như ta có thể tự làm mọi việc một mình thì nam nhi như chàng không có gì phải e ngại cả.
Chàng chia cho ta nửa ống cơm lam. Buổi đó chúng ta trò chuyện rất nhiều thứ. Chàng học rộng, hiểu nhiều, đã đi nhiều nơi nhưng không tự mãn. Chàng giảng giải những điều mà ta chưa biết với sự chân thành, khiêm tốn. Ta thích nghe giọng nói sôi nổi, thích ngắm khuôn mặt có đôi mắt sáng như hai đốm lửa nhỏ của chàng.
Có lẽ chàng với ta là duyên trời định thật.
V
Ta một lần nữa thưởng thức vẻ bối rối của chàng khi hôm sau chàng đến nhà ta và phát hiện ra cô nương trú mưa hôm trước chính là Trưng Trắc – vị hôn thê mà chàng đến để xem mặt.
Đấy là một trong những lần hiếm hoi ta phá lên cười thật to khiến chàng bất giác cũng cười theo. Chàng vừa cười vừa lắc đầu cam chịu.
Khi đã làm vợ chàng, ta càng mến, càng phục chàng hơn bởi ý chí sắt đá bên trong con người có vẻ thư sinh. Ta yêu nhất là những khoảnh khắc chúng ta ngồi trò chuyện, bàn luận thế sự và chàng đưa ra những kiến giải thấu đáo, sáng suốt.
Chàng đọc nhiều Hán thư cổ và am hiểu lịch sử của tổ tiên lẫn triều đình phương Bắc. Trong số gia nhân nhà chàng có người đã từng đặt chân đến tận kinh đô của nhà Hán ở Lạc Dương. Đường xa vạn dặm, nhiều người bỏ mạng trên đường đi. Kinh thành cao vút, uy nghi, xây bằng những bức tường đá đồ sộ.
Sống trong hoàng cung giữa tột đỉnh xa hoa là hoàng đế. Mọi của cải đất đai dưới bầu trời này đều thuộc về ông ta. Ta hỏi chàng: vậy mảnh đất chúng ta đang sống đây cũng thuộc về ông hoàng đế đó ư?
Lúc đó chúng ta đang đứng trên một gò đất cao, phóng tầm mắt ra xa là cánh đồng lúa trĩu hạt. Chàng nói không, giọng vang vang át cả tiếng gió.
“Đất của ta là do các Vua Hùng mở mang. Chúng ta là dòng dõi Hồng Bàng, không phải người Hoa Hạ. Người phương Bắc hiện nay uy hiếp chúng ta, bắt chúng ta phải nghe theo. Nhưng rồi điều này sẽ phải chấm dứt. Còn dòng máu Lạc Hồng chảy trong huyết quản, chúng ta mãi mãi không quên mình mới là chủ nhân thực sự và sẵn sàng đem dòng máu đỏ tưới lên đất này để đánh đuổi kẻ thù.”
Gió thổi tung bay vạt áo chàng, cuốn lời nói đi xa mãi về tít chân trời. Chàng áp hai tay lên ngực, ngửa mặt lên trời, cánh mũi phập phồng hít hà hương lúa chín. Ta nhìn chàng và nghĩ: đây đích thị là người chồng mà ta mong muốn.
Chàng và ta, chúng ta đồng điệu về chí hướng, cùng mang nỗi đau mất nước, cùng nung nấu một ý chí phục thù. Chúng ta cùng bắt tay vào hành động, bí mật chiêu binh mãi mã, huấn luyện quân sĩ, chờ đợi thời cơ vùng lên giành độc lập. Anh hùng hào kiệt khắp nơi đã quy về hưởng ứng.
Nhưng chàng đã chết trước khi thời cơ đó kịp đến. Kẻ nào đó đã báo với Tô Định. Chàng không còn đường sống.
VI
Tô Định – kẻ thù của ta – giờ này đang làm gì?
Hắn đang ngủ ngon trong đệm ấm chăn êm, yên tâm vì đã trừ khử được một phần tử chống đối nguy hiểm?
Ta vẫn nhớ như in cái ngày lần đầu tiên nhìn thấy hắn. Một ngày hè nóng nực, buổi đón tiếp tân Thái thú sang nhận chức thay cho Tích Quang. Hai vợ chồng ta buộc phải hoan nghênh hắn tại chính ngôi nhà này.
Tô Định đi kiệu đến, theo sau là đội quân với giáp trụ sáng loà. Hắn mệt mỏi trong bộ triều phục lượt thượt bước từ kiệu vào nhà. Trang phục phương Bắc không hề phù hợp với khí hậu mùa hè phương Nam nhưng hắn cương quyết giữ.
Người hầu theo sau không ngừng tay quạt nhưng khuôn mặt hắn vẫn bóng nhẫy, nhễ nhại mồ hôi. Đôi mắt dài hẹp ti hí trên khuôn mặt tròn trịa ấy chỉ sáng lên khi thấy mâm dưa hấu chúng ta chuẩn bị mời hắn.
Hắn ăn lấy ăn để từng miếng dưa hấu to. Nước đỏ ứa ra từ miệng, lọt qua kẽ tay rơi xuống triều phục cũng không để ý. Chỉ khi cơ thể ợ lên một tiếng thô lỗ hắn mới dừng ăn, ngồi thoải mái trên ghế, liếc nhìn chúng ta với vẻ coi thường.
Khi Thi Sách trình bày muốn giảm bớt tô thuế vì hạn hán từ đầu năm, hắn nhướn mày không hài lòng, cất giọng the thé tựa hoạn quan nói sẽ xem xét, rồi chê bai người tiền nhiệm đã quá nhu nhược. Vào khoảnh khắc đó, ta và Thi Sách nhìn nhau. Chúng ta hiểu đây sẽ là một tên quan tham bạo tàn và độc ác, sẽ làm tình làm tội con dân của mảnh đất này.
Và chúng ta đã tiên liệu đúng. Tội ác của Tô Định gây ra trên mảnh đất này có đốn hết rừng tre trúc cũng không ghi hết được. Giờ đây tội ác của hắn ghi thêm cái chết của Thi Sách.
Hắn nghĩ giết được chàng thì sẽ dẹp được mầm loạn.
Hắn không biết gì về người đàn bà trên mảnh đất này.
Từ phía chuồng voi, tiếng sột soạt nặng nề vọng vào – Tiểu Bạch đang di chuyển bồn chồn. Nó cũng đang thức cùng ta sao?
VII
Ta gặp Tiểu Bạch năm ta mười hai tuổi, theo đoàn săn vào rừng tìm voi trắng.
Con voi tinh khôn luôn biết cách tránh mọi cạm bẫy phường săn giăng ra. Hôm đó người ta lừa bẫy được voi con, đưa nó ra trước làm mồi nhử thì voi mẹ mới sa bẫy. Nó rống lên vì đau đớn và trở nên hung dữ bất thường. Một người sơ ý lại gần đã bị vòi đập chết. Mọi người chỉ dám đứng xa phóng giáo, đợi cho nó chết vì kiệt sức. Bộ lông trắng như tuyết thoáng chốc đã loang nổ máu.
Người trưởng đoàn săn tiến lên trước voi mẹ, xá một cái dài rồi nói:
“Chúng ta vì bị bức đến đường cùng mà phải giết voi. Mong voi hiểu. Nếu không kiếm được đủ số ngà voi dâng lên, chúng ta sẽ bị phạt, bị bắt giam, cha mẹ vợ con sẽ không ai chăm sóc, sẽ bị chết đói.”
Con vật tinh khôn như hiểu. Tiếng rống yếu dần – nó biết mình sẽ chết, nhưng không cam tâm để voi con bị giam. Rồi voi mẹ khóc. Ta thấy những giọt nước mắt to rơi ra từ con mắt đỏ ngầu cùng những tiếng rống khắc khoải của con vật to lớn, đẹp đẽ ấy.
Máu trong ta như sôi lên. Ta tiến lại gần voi con, vung kiếm chặt đứt dây buộc trước ánh mắt ngạc nhiên và sợ hãi của người quản tượng. Không bị gò bó, voi con chạy vội ra chỗ mẹ. Voi mẹ đang hấp hối cố dùng vòi vuốt ve voi con. Nó gương đôi mắt nhìn ta, mi mắt chớp chớp như cảm ơn. Ta đứng lặng nhìn con vật hùng dũng của rừng xanh trút hơi thở cuối cùng. Đôi ngà của nó rồi sẽ được mang về trưng bày ở nơi nào đó tận phương Bắc xa xôi.
Sau buổi đó, ta mang voi con về chăm sóc.
Đó chính là con Tiểu Bạch.
Hơn mười năm, từ một voi con đã trưởng thành một voi to lớn, đẹp đẽ, với đôi ngà dài hùng dũng. Nó không cho ai cưỡi ngoại trừ ta. Em Nhị đã từng thử – thậm chí mượn quần áo ta, giả vờ là ta. Nhưng cái mũi rất thính của Tiểu Bạch đã phá tan kế hoạch đó. Em Nhị rất bực bội cho đến khi tù trưởng Cao Sơn tặng em một con voi – con Xám.
Ta cũng vui vì Tiểu Bạch có thêm bạn mới.
VIII
Đêm đã qua. Trời bắt đầu hửng sáng dần ở phía đông.
Ta vẫn ngồi trên bậc thềm đá, tay ôm gối, nhìn khoảng sân tối đang hửng sáng. Có tiếng mõ trâu lách cách vang lên rất khẽ ở đằng xa. Ta như thấy rõ hình ảnh người nông dân lầm lũi bước theo con trâu, vạch những đường cày mạnh mẽ xuống đất đen. Dù ai đó có nằm xuống thì mảnh đất này vẫn sẽ sống, vẫn sẽ dâng hiến cho đời bao hoa thơm trái ngọt.
Ta áp hai tay lên ngực, ngửa mặt lên trời, hít một hơi thật sâu – giống Thi Sách từng làm trên gò đất cao đó, giữa hương lúa chín và gió thổi tung vạt áo. Và ta như nghe nhịp tim của chàng đang đập. Đúng rồi. Chàng không hề rời xa. Chàng vẫn ở đây cùng ta, hiện diện trong dòng máu đang cuộn chảy nơi tim ta.
Ta sẽ tiếp tục công cuộc mà chàng và ta đã đề ra.
Ta nghe tiếng bước chân nhẹ sau lưng. Em Nhị bước đến bên ta trong y phục chỉnh tề, tóc tai gọn gàng – không phải là của người vừa mới dậy. Em đã thức cả đêm giống ta.
Em cầm lấy tay ta, hai chị em sóng đôi, đưa mắt nhìn bầu trời hừng đông đang sáng rõ.
“Chị đã quyết định rồi phải không?”
Ta gật đầu.
“Em luôn sát cánh bên chị. Hãy nói em cần phải làm gì?”
Ta nhìn em và mỉm cười. Em Nhị thích ngắm ta cười. Ta biết. Cũng như ta biết trong lòng em giờ đang nghĩ gì – chúng phản chiếu rõ ràng trong đôi mắt phượng đen lay láy giống y mắt ta. Mắt của người cũng đã thức suốt đêm nhìn vào trong bóng tối và đã tìm ra được điều mình cần tìm.
Một tiếng rống trầm hùng – tiếng con Tiểu Bạch – cất lên. Tiếng con Xám mạnh mẽ phụ hoạ. Âm thanh lan mãi ra xa, vang vọng khắp núi rừng như đánh dấu một ngày mới tại đất Mê Linh.
Tai ta như đang nghe tiếng trống đồng âm vang từ ngàn xưa vọng về.
ĐÊM MÊ LINH (Truyện Trưng Trắc) Truyện ngắn dự thi của VÂN KHUÊ