ÂM BINH VÀ LÁ NGÓN: CHƯƠNG 13-14

Cái hầm rượu nhà Thào Chớ quả là có một không hai. Đó là cái hang tự nhiên ăn sâu vào vách núi ngay phía sau lưng nhà Thào Chớ. Vào mùa thu ngô, bà con Ngải Thầu nấu rượu chăm lắm. Thào Chớ chỉ việc đánh ngựa ra chợ và mua gom rượu về, cho vào chum bịt kín, tống vào hang. Trong hang ẩm ướt, thi thoảng có nước ngầm rỉ ra. Rượu cứ để đó một hai năm là Thào Chớ mang lên chợ huyện giao cho các đại lý bán buôn.
Từ xưa, rượu ngô Mùa Sán đã nức tiếng cả vùng Mường Thàng về sự thơm ngon rồi. Thào Chớ làm cái gì cũng nên ăn, nuôi con gì cũng béo tốt, trồng cây gì cũng sai quả. Cũng chính vì thế mà mới ngoài bốn mươi Thào Chớ đã lên làm trưởng bản và nói gì dân cũng răm rắp nghe theo. Nói về chuyện làm ăn, Thào Chớ đã sớm khôn hơn người, như cái gai đã nhọn thì vừa chui ra khỏi vỏ cây đã nhọn. Nói về chuyện ngoại giao, khách khứa, bầu bạn thì Thào Chớ còn bỏ xa Chinh. Ở Mùa Sán, có ba người đàn ông được dân Ngải Thầu biết đến nhiều nhất, đó là Lẩu với tài đuổi ma, thứ hai là Chinh với tài chém thịt và ba là Thào Chớ với cái tài kiếm tiền. Khách nhà Lẩu thì thà thì thụt như ma ngày. Khách nhà Chinh thì rổn rảng, tưng bừng chè chén. Khách nhà Thào Chớ thì khác lắm, sang trọng vô cùng. Ở vùng núi non này, dùng thuốc phiện để tiếp khách quý, may chăng chỉ còn Thào Chớ. Tiếng tai này đã bay tới ủy ban xã nhiều lần. Nhưng chính quyền suy nghĩ mãi rồi, còn ai sáng giá hơn Thào Chớ để ngồi vào cái vị trí trưởng bản nữa đâu?
Mùa Sán có bốn dân tộc thiểu số nhưng phần lớn là người Mông Hoa. Thào Chớ lên làm trưởng bản là do chính quyền cất nhắc và dân tin tưởng, chứ bản thân Thào Chớ đâu có muốn. Chừng nào dân ca thán, thắc mắc hẵng hay. Thế nên, Thào Chớ làm trưởng bản đã chục năm, giống như một loài cây cổ thụ ở trên đá nhưng rễ cắm xuống tận lòng khe, đáy vực. Nhiều nhà ở Mường Thàng này có hầm rượu chứ không riêng Thào Chớ. Chỉ khác là người ta hay mang hầm rượu ra khoe với khách buôn, khoe với bà con họ hàng, khoe với bạn rượu còn Thào Chớ thì không bao giờ khoe và cũng chẳng muốn ai nhìn thấy hầm rượu nhà mình. Người Mông không hay cờ bạc như người Giáy, người Tày nhưng lại hay uống rượu. Rượu trong nhà người Mông giống như nước. Khát uống, vui uống, buồn uống. Thế thôi mà. Thào Chớ có một thói quen khi uống rượu đó là ngồi xổm chứ không ngồi khoanh chân như người khác. Và khi uống thì nhắm nghiền mắt chứ không mở mắt ra. Nhưng khi đã cạn bát rượu thì mở mắt ngay lập tức và nhìn xung quanh. Cái khoảnh khắc mà Thào Chớ nhắm mắt lại là khoảnh khắc vợ Thào Chớ gắp thức ăn bỏ vào bát chồng. Và sau khi bỏ bát rượu xuống là Thào Chớ thò tay vào bát và nhặt lên thứ gì đó cho vào miệng. Nhiều lần Thào Chớ say quá còn uống, Máy thường gọt lê, bổ nhỏ bỏ vào bát chồng. Thào Chớ ăn mà không biết mình ăn gì. Lúc uống rượu là lúc Thào Chớ dễ tính nhất. Khi Thào Chớ tỉnh dậy sau một cuộc rượu dài là lúc Thào Chớ khó tính nhất. Vợ con phải biết đường mà lựa.
Lại nói về cái hầm rượu nhà Thào Chớ. Nó không chỉ để cất rượu mà còn cất rất nhiều thứ quý giá khác. Người thứ hai sau Thào Chớ có thể vào hầm rượu, đó là Máy. Vậy mà, một hôm uống rượu nhà Lẩu, khi đã ngà ngà, Lẩu buột mồm nói đến cái hầm rượu nhà Thào Chớ khiến Thào Chớ tím mặt. Về nhà hỏi Máy thì Máy chối. Kết quả là sau một trận đòn nhừ tử, Máy khai ra rằng Lẩu năn nỉ vào thăm hầm rượu và Máy chỉ cho nó vào có chục phút. Thào Chớ như người phát điên phát rồ. Một phút còn không thể, huống hồ mười phút. Thằng Lẩu mà yểm bùa vào hầm rượu nhà Thào Chớ thì còn làm ăn gì nữa. Có một chuyện kiêng cữ mà dân vùng Mường Thàng này ai cũng thừa nhận. Ấy là cái vía rượu. Nhà nào đang cất rượu cũng phải ra dấu từ ngoài ngõ để người vía độc biết đường mà quay ra. Rượu còn kĩ vía hơn cả gái đẻ, mèo đẻ, lợn đẻ ấy chứ. Nếu không, mất toi chục cân gạo và bao nhiêu công sức nấu nướng, ủ men, bao nhiêu củi lửa. Rượu trong hầm Thào Chớ, cứ gọi là ngọt lừ và cứ từ từ mà đốt cháy cổ khách. Nhiều người bảo rằng cái hầm ấy, khi mở cửa đón rượu đã được cái vía tốt xông cho nên cái việc làm ăn vô cùng suôn sẻ.
Trước, Thào Chớ cũng thân thiết với thằng Lẩu lắm chứ. Dù sao cũng là anh em với nhau vì có cùng một ông bố vợ. Nhưng kể từ khi mo Dính, bố của Lẩu mất tích và thằng Lẩu đi đâu cũng khoe ra ba vạn âm binh mà ghét. Đến như Thào Chớ đây, quan hệ rộng rãi từng ấy, lúc đông nhất, có đến ba chục thằng tay chân đệ tử, cũng là nhiều lắm rồi. Mà sai khiến cái bọn người trần mắt thịt này mới khó, vì chúng nó ẩm ương, mỗi đứa một vẻ, một cảnh, một nết. Thế mà Thào Chớ còn chưa dám vỗ ngực xưng danh. Đằng này, đi đâu cũng tưng tưng khoe mình là thầy mo. Mấy lần bị phạt mà vẫn mặt dầy khoác lác. May mà người ta còn nể cái uy của mo Dính mà tha cho. Từ khi biết thằng Lẩu đã mò vào hầm rượu nhà mình, Thào Chớ luôn cảm thấy bất an, nhưng chưa có cái cớ gì để nói cho nó một trận cho bõ tức về cái tội tùy tiện. Không những tùy tiện vào hầm rượu mà còn tùy tiện đi gặp thằng Páo để nói chuyện mua bán, mặc cả. Thằng Páo mà mua được bằng tiền thì Chớ mua lâu rồi, không đến lượt nó. Cứng cổ như thằng Chinh mà còn có điểm yếu thì hạng như thằng Páo, trụ được bao lâu. Bố mẹ nó, vợ con nó, bản thân nó, có khỏe được mãi không? Không đau, không ốm, không hoạn nạn à? Không cần đến tiền à? Cái bản này, còn ai có tiền để có thể giúp nó. Cứ chờ đấy đã, rồi sẽ biết. Cả xã có hơn chục công an viên, cứ hạ hết từng ấy thằng, thì coi như người bị chặt hết tay, hết chân rồi, còn lại hai thằng với nhau, chúng mày còn làm mưa gió được nữa không? Có dạo, tất cả thi nhau đòi nghỉ việc. Thằng Sử tái mặt, vắt chân lên cổ đến từng thằng một mà vận động, mà nỉ non, ngon ngọt. Chúng nó lại đi làm lại. Lần này, phải cao tay hơn, phải đầu tư nhiều hơn một tí chứ. Trước hết là khoắng lên, như người ta khoắng bùn cho cá sặc đã, rồi mới xỉa từng chú, ném lên bờ.
Thào Chớ khoan khoái trong cái suy nghĩ thường trực là phải cạnh tranh uy tín, quyền lực với thằng Páo. Thú thật, cái viễn tưởng làm vua cả vùng Mường Thàng rộng lớn như cái bọn khách Kiều A vẽ ra, Chớ không mấy tin vào năng lực của mình. Nhưng để làm ông vua nho nhỏ ở Mùa Sán và tiến tới là vùng Ngải Thầu này thôi thì có thể lắm chứ. Chẳng cần phải có nhiều nhà đẹp, chẳng cần phải nhiều gái đẹp phục vụ hay có nhiều thuốc phiện như chúng nó hứa. Thào Chớ chỉ cần nhiều tiền nhiều bạc, và đi đến đâu trong cõi của mình cũng có kẻ cúi đầu nể phục và cung phụng. Thế thôi. Thằng Sử với thằng Páo, có tài giỏi mấy, có luật này luật kia hộ tống mà cứ nghèo kiết xác như thế thì nói cũng chả ai nghe, chả ai tin mấy. Suốt ngày lặn lội khắp hang cùng ngõ hẻm, vận động, tuyên truyền này nọ, giống như khèn thổi tai trâu cả. Đâu vẫn vào đó. Làm thằng thường dân như thằng Chinh mà hay. Thích uống lúc nào thì uống, thích say lúc nào thì say, chả ai nói. Văng tục, chửi bậy tùy thích, chả ai phạt. Còn như mấy đứa cán bộ, thử như thế xem. Người ta cho về với vợ hết.
Thào Chớ đi xuống đường, đường vắng quá. Người lớn trẻ con đi hội xuống đồng bên Hoa Long hết cả. Nghe nói, bên ấy năm nay mở hội to lắm. Đang định bụng đi một vòng xem không khí tết một tí thì thấy Páo đi lại phía mình. Thào Chớ tay bắt mặt mừng, vẻ mặt thân thiện.
– Chú mày vào đi, ơ thế hôm nay không đi hội à?
Páo lắc đầu, vẻ mặt sốt ruột.
– Không, đêm qua nhà tay Sùng mất cắp, anh biết chưa?
Chớ giật nảy mình.
– Chưa, có thấy đứa nào báo đâu mà biết, mất gì?
Páo thở dài.
– Mất hai cái cày!
Thào Chớ giãy nảy.
– Mất cày thì cụt tay à? Lấy gì mà cày? Dạo này mất an ninh quá. Lộn xộn hết rồi! Mà cái thằng Sùng rất dở, tết đến người Mông ta cho cày, bừa, dao, cuốc cùng ăn tết với. Đằng này, chắc lại vất lăn lóc chỗ nào đó nên mới bị lấy mất.
Páo nói:
– Anh em nhà nó đang chia nhau đi tìm, nhưng tôi nghĩ là không thể thấy được. Cày nhà nó cũ. Kẻ xấu lấy, phần nhiều là sẽ tháo ra, mang đi đúc lại.
Thào Chớ vỗ đầu cười khà khà:
– Tôi biết một chỗ đúc lưỡi cày ở Ngải Thầu!
Páo gật gật:
– Tôi cũng biết chỗ ấy, vậy trưởng bản đi với tôi luôn chứ!
Thào Chớ như quả bóng đang phồng hơi thì câu nói của Páo như cây kim chọc vào. Thào Chớ vội xẹp xuống, nhăn mặt, bàn lùi:
– Ấy chết, sao lại tôi, cậu bảo đứa nào đi cùng mà chả được. Cậu tưởng cái thằng ăn cắp thì nó nể trưởng bản lắm à. Mà giờ này, chắc gì nó đã mang đến đó, mình đến sớm, chả phải là đánh động chúng nó sao. Về nhà tôi uống rượu đi!
Páo nói là để uống sau, giờ phải đi đã.
Thào Chớ ôm bụng cười ngặt nghẽo khi Páo đi khuất về phía đầu bản. Đáng đời cái lũ háo danh. Từ giờ trở đi, mất cắp, một trộm, đánh nhau tưng bừng, cho chúng mày đu quay, mỗi thằng một đầu, tít mù. Thào Chớ đi lên nhà, nhìn sau trước rồi cẩn thận dỡ hai tấm ván dầy khộp ngay phía dưới bàn thờ xuống. Cửa hầm lộ ra hun hút sâu và tối om. Thào Chớ dò dẫm bước vào. Được chục bước thì dừng lại, đưa tay sờ soạng vào một ngách hang. Lưỡi cày đây chứ đâu. Hằng chục cái. Cho chúng mày tìm đến lúc nào ông chán thì ông tha.
Tại ủy ban nhân dân xã. Sử cứ đi đi lại lại quanh chiếc bàn gỗ. Páo thì ngồi im. Bất chợt Páo nói:
– Tôi không tin là thằng Sùng bị trộm lấy mất hai cái cày, chắc ai đó giấu đi thôi!
Sử gật gù:
– Vấn đề là ai đã làm việc ấy?
Páo cúi đầu, vẻ mặt khá ái ngại:
– Chỉ những kẻ có tiền và hứng thú với việc phá đám mới làm vậy!
Sử đưa tay gãi trán:
– Việc này rất tế nhị. Tôi phải xin ý kiến cấp trên đã.
Páo giơ tay:
– Khoan, anh mà đưa việc này ra ủy ban, không giải quyết được gì, mà không ai tin chúng ta cả!
Sử lắc đầu:
– Bắt buộc chúng ta phải nói. Một số kẻ đã cố tình biến chúng ta thành con rối, để chúng ta bị phân tâm. Nhân cơ hội đó chúng sẽ tiến hành việc lớn hơn. Có ba ngày tết mà hơn chục vụ ẩu đả, xô xát dẫn đến đổ máu trên địa bàn xã. Và các địa điểm xảy ra vụ việc thường ở nơi hẻo lánh, cách xa nhau. Tất cả các nạn nhân khi được hỏi đến đều nói rằng do có chén rượu nên không làm chủ được đã xúc phạm đối thủ của mình trước.
Páo thở dài:
– Tất cả đều giống nhau, như một trò chơi!
Chủ tịch xã gay gắt chỉ trích vì mới ngay buổi làm việc đầu năm đã để xảy ra bao nhiêu việc:
– Có mấy cái việc cỏn con mà các đồng chí cũng không làm được. Theo tôi, đội ngũ công an viên, phần lớn là năng lực xử lý tình hình, vụ việc rất là yếu kém. Đồng chí Sử ngay lập tức làm báo cáo nhân sự chi tiết rồi thông qua ủy ban vào sáng ngày mai. Riêng cá nhân tôi, tôi không tin Ngải Thầu ta có dấu hiệu của tội phạm chính trị gì cả. Không có đứa nào có cái gan làm việc đó đâu. Các đồng chí đừng có nâng quan điểm hòng thoái thác trách nhiệm khi để xảy ra tình trạng rối loạn an ninh trật tự như vậy.
Đồng chí chủ tịch xã ngừng lời thì tiếng vỗ tay rầm rập hưởng ứng. Páo đã nhấp nhổm định đứng dậy, nhưng nhận được cái liếc ngang đầy ngụ ý của Sử thì đành ngồi im. Đồng chí chủ tịch thuận đà nói tiếp:
– Còn cái việc cúng bái nữa, theo tôi, đây là tập quán của các đồng bào rồi, không phải cứ lúc nào cúng bái cũng là mê tín dị đoan. Tôi chưa thấy ai cúng chết người cả….
Lại vỗ tay, chủ tịch nói đến là hay, đến là đúng. Những lời nói, sự tức giận được học thuộc, được lặp lại vô số lần. Và đương nhiên là lần nào cũng nói bằng tinh thần chủ quan, thái bình yên ổn. Lần trước, bàn về vụ bộ xương trên núi Plâu, một vị trong ủy ban còn nói:
– Chắc là tằng tịu với vợ nó, nó bắt được thì xấu hổ quá, lên núi ăn lá ngón mà chết thôi!
Và ngay như sự việc Mỷ và một số phụ nữ Ngải Thầu mất tích, các vị đều cho rằng họ hận chồng, hận con nên ăn lá ngón chết đâu đó thôi. Đúng là lá ngón muôn năm. Mọi con đường tăm tối, bế tắc đều dẫn đến gốc cây lá ngón cả. Người ta cứ đổ hết cho lá ngón cũng chẳng oan. Vì bình quân, cứ một năm, ở Mường Thàng, lá ngón lấy đi khoảng chục mạng người.
Cả Sử và Páo đều biết chủ tịch nói như vậy là nhắm vào ai rồi. Mà cũng chẳng có sai. Vì nói đến năng lực thì ai cũng phải thừa nhận một thực tế như vậy. Là đội ngũ cán bộ cấp xã, năng lực, trình độ đều hạn chế, chứ không riêng gì công an cả. Sử khẽ liếc qua Páo, thấy gương mặt Páo và một phó công an nữa từ đỏ chuyển sang tái thì có vẻ lo lắng. Cũng may, chủ tịch xã vừa có hành động khá quen thuộc là kéo tay áo lên cao để xem đồng hồ và có lời kết thúc buổi họp, và cũng là kết thúc giờ làm việc buổi sáng đầu năm. Năm nào cũng thế, chỉ làm việc theo kiểu khởi động tinh thần độ hơn tiếng đồng hồ thôi, rồi kéo nhau xuống quán rượu.
Quán rượu dựa lưng vào vách núi với vị trí đắc địa. Nó không ở xa với ủy ban xã Ngải Thầu quá, vì như thế, quan khách sẽ bẩn giày dép, sẽ phàn nàn những lúc trời mưa gió. Nhưng nó cũng không ở gần quá để thiên hạ đánh giá, là các vị ấy làm thì ít, mà đánh chén, tụ tập thì nhiều. Quán là hai gian nhà vuông vuông chẳng ra mẫu, ra kiểu cách gì cả. Cũng chả phải nhà Mông, vì nó sáng choang choang. Cũng chẳng phải nhà Dao, vì đồ đạc tạp nham, thập cẩm, thứ bằng gỗ, thứ lại bằng sắt. Một phần tư diện tích khoanh ra làm chỗ nấu nướng, chế biến thức ăn. Chỗ còn lại thì tiện khách ngồi đâu thì ghế kéo đến đó, bàn kê đến đó. Ai sợ gió, sợ nắng thì ngồi góc trong cùng. Anh nào ngân sách hẹp hòi, sợ người quen bắt gặp cảnh túy lúy thì cũng vào chỗ kín đáo mà ngồi. Anh nào hào phóng, túi tiền rủng rỉnh thì ngồi chềnh ra ngoài hiên, công khai cái thú say sưa ăn uống. Anh ngồi góc biết thân biết phận thì nhỏ mồm, nhỏ miệng. Anh ngồi cửa thì bô bô, oang oang, rằng đi quán uống rượu chứ có phải đi ăn trộm, đi tòm tem vợ thằng khác đâu mà phải dấm dúi. Thấy ai đi qua mà nhìn vào thì cũng quào vào hết. Tiền không đủ trả thì nợ lại, lo gì? Có anh, cả năm ngồi góc, đầu xuân năm mới cũng nhoi ra chỗ ánh sáng để thấy mình đỡ kém cạnh.
Sử và Páo ngồi cái bàn kê giữa nhà. Cô chủ quán người Giáy trạc ba chục tuổi, hai má ngon như hai miếng đào tơ lại được đôi núm đồng tiền trang trí, tự tin bước lại bàn của Sử và hỏi:
– Các cán bộ dùng rượu gì?
Sử khẽ hất hàm sang những bàn bên cạnh, tỏ ý như nhau cả thôi, họ dùng gì chúng tôi dùng nấy. Cô chủ quán chỉ tay vào cái cánh cửa gỗ khép hờ phía trong tường mà bảo.
– Em có cả hầm rượu, các anh có muốn thử một loại rượu mới nhập về không?
Páo lắc đầu.
– Rượu ngô thôi!
Sử phụ họa:
– Ngô cũng được!
Khách khứa uống mỗi bàn hết hai chai rượu thì thức ăn mới được mang ra. Khách đông thế mà mà cô chủ quán lại chỉ có một mình. Đã có một mình, cô chả vội, lại còn đủng đỉnh. Vừa đi vừa lắc mông, lắc ngực. Cái áo bằng vải lon màu hồng nhạt may vừa vặn, khéo léo. Cái quần vải sa tanh cũng thế, ôm khít cái vòng mông căng mẩy, núng nính. Đã thế, bàn nào mời, cô còn nhiệt tình uống cạn vài li. Đến lúc ánh mắt cô sóng sánh ban phát cho các vị khách xã mỗi người đều có một phần, không ít thì nhiều, cô mới dừng lại, tiếp tục đến với con dao, cái thớt và cái chảo gang.
Páo lầm lỳ, không đứng dậy, không đi các bàn chúc tụng và cứ uống đầy chén một. Sử biết là Páo nghĩ gì nhưng Sử cũng không biết nói gì lúc này. Nếu là lúc khác, Sử sẽ kể câu chuyện gì đó thật buồn cười, để lôi Páo trở về với hiện tại. Nhưng hôm nay, thôi cứ để Páo như vậy đi. Cũng tốt. Con người ta, cũng phải biết buồn, biết đau, biết thấm thía chứ. Phải trải qua hết mọi sự ấy thì mới có niềm tin để tiếp tục được. Sử biết, ở Mùa Sán, Páo bị Thào Chớ và những kẻ có tiền cô lập. Ở ủy ban, Páo bị lãnh đạo đè nén, phản bác và coi thường. Sử biết, Páo đang đứng ở ngã ba đường, giữa hai sự chọn lựa. Hoặc là tiếp tục. Hoặc là dừng lại. Sử không muốn Páo dừng lại. Vì nếu Páo bỏ cuộc, mọi việc ở Mùa Sán sẽ thêm rắc rối, phức tạp và nhiệm vụ chất lên vai anh sẽ nặng nề biết chừng nào. Nhưng khuyên nhủ Páo thì không. Sử sẽ không làm thế. Để Páo phải tự đối diện, tự ngẩng đầu lên và nhìn ra mọi đúng sai, phải trái. Tuy lúc này, nó đang nhì nhằng, rối bời, nhưng anh tin, rồi Páo sẽ nhận ra một lẽ sống đơn giản nhất, thiêng liêng nhất, ấy chính là lẽ sống đem đến cho bản thân mình sự thanh thản. Đã có lúc Sử từng nghi ngờ Páo, và ngược lại. Nhưng đó cũng là bản năng thông thường của con người trước những cạm bẫy mà thôi.
Anh không uống sao? Đôi mắt Páo ngầu đỏ, nhìn Sử như muốn hỏi, khi thấy Sử đã dừng cuộc rượu. Sử lắc đầu. Páo vẫn tiếp tục rót rượu vào chén của mình. Páo cầm lấy chén rượu chắt ngược vào chai, nói nhỏ:
– Chiều nay chúng ta còn việc phải làm. Hôm khác sẽ uống!
Páo có vẻ tự ái, đứng dậy, chệnh choạng đi về phía ủy ban xã. Các bàn khác vẫn đang tiếp tục chúc tụng. Có vị còn mang rượu vào tận bếp ép cô chủ quán rồi tranh thủ véo má một cái, vỗ mông người ta một cái, cho bõ công rồi mới đi ra. Có ông còn đến bên cánh cửa hầm rượu ăn thông vào vách núi mà gõ:
– Anh nào nấp trong ấy ra uống rượu mừng với chúng tôi chứ nhỉ?
Rồi tất cả phá lên cười. Cô chủ quán rượu cả gan bỡn cợt:
– Trong hầm em chỉ có rượu thôi. Mà may chăng là có thêm…ông thần núi…
Sử đi sau Páo. Đoạn đường sau khi con người ta no say như dài hơn, đẹp hơn. Mà đúng rồi, xuân trên Ngải Thầu rất đẹp. Cái vườn lê nhà ai kia? Hoa trắng muốt như tuyết phủ. Cái tảng đá nhà ai kia? Nắng còn non mà váy đã đem phơi. Và tiếng khèn ai kia? Gọi ai mà da diết, mà bùi ngùi đến thế? Tự nhiên Sử lại thèm được ôm lấy cây khèn mà nhảy múa, mà thổi như hồi trai trẻ…Trai Mông Ngải Thầu, đứa nào cũng rất mực tài hoa trong khoản này.
Páo ngủ ngồi ngay trên ghế, tại phòng họp, nét mặt hiền như cậu trai mới lớn. Sử đi vào, thấy không tiện đánh thức thì lại đi ra sân ủy ban. Bọn ngựa buộc dưới gốc cây tống quá sủ đang khua móng khộp khộp vì khát nước mà các chủ nhân thì vẫn đang tỉ thí tưng bừng ngoài quán rượu chưa về. Sử đã có kế hoạch lên Mùa Sán chiều nay rồi. Anh sẽ đến nhà tay Sùng. Cứ ngồi đây mà đoán già đoán non cho mệt. Phải đến nhà người ta thì mới biết người ta nói gì, làm gì chứ. Từ cái nói sẽ lần ra cái nghĩ. Không chặn được hành vi xấu từ trong suy nghĩ thì coi như là thất bại. Nó mà diễn ra thì hậu quả không lường được. Sử lượn qua lượn lại quanh sân vài vòng thì quyết định vào đánh thức Páo dậy. Páo có vẻ ngượng nghịu. Nghe Sử nói hai người sẽ về Mùa Sán ngay thì ngay lập tức đứng dậy, chỉnh chang áo mũ. Sử đi xe máy, Páo đi ngựa. Xem ra đi Mùa Sán bằng ngựa mới là hợp lý.
Nhà Sùng ở chênh vênh lưng núi, chỗ ấy có một cụm ba nhà, đều là của các anh em trai của Sùng cả. Nhà Sùng thuộc diện nghèo đói và thiếu ăn lúc giáp hạt. Khoảng nương thấp phía trước mặt nhà Sùng trồng ít cây thuốc lá. Trong bãi đất nhỏ trồng ngô đã rạc, lộ ra những thân cây thẳng tròn, họ nhà lanh với những tán lá nhỏ, lăn xăn xanh sẫm. Cây này có vẻ hợp đất này đây. Sử dừng xe, Páo dừng ngựa. Páo hỏi khẽ:
– Có nên đến nhà trưởng bản trước không?
Sử lắc đầu tỏ ý không cần. Páo đi trước, vì Páo là người Mùa Sán, chẳng gì cũng thân thuộc với Sùng hơn. Sử chỉ những cái cây họ lanh trồng xen kẽ trong vạt ngô mà hỏi Páo:
– Cây gì kia?
Páo lắc đầu không biết. Cây rừng trăm họ trăm loài, có phải cây nào cũng có tên và cây nào người cũng biết tên đâu. Thấy Sử vẫn tiếp tục đi lên và đưa mắt quan sát loài cây lạ như áng chừng tuổi thọ, thời điểm gieo hạt và số lượng cây, Páo sốt ruột hỏi:
– Cây gì vậy? Anh có biết không?
Sử thở dài, phần vì leo dốc mệt, phần vì bất ngờ với câu hỏi của Páo. Sử đi kịp Páo, sau vài phút chờ cho hơi thở đều đặn trở lại, Sử mới nói:
– Cây cần sa!
Páo vừa ngạc nhiên, vừa cảm thấy xấu hổ. Nhìn ngang và nhẩm đếm, có khoảng năm chục cây như thế. Thằng này ghê thật, cứ tưởng ngô nghê. Mà không, có khi nó ngô nghê thật, thì mới trồng cây nghiện ngay trước cửa nhà mình như trồng cây cảnh, trồng hoa như thế.
Sùng ngoài ba mươi tuổi, khuôn mặt hốc hác, làn da khá sạm. Ba giờ chiều mà vẫn ngủ say sưa, thế bảo sao không thoát được đói nghèo. Vợ Sùng có vẻ còn già hơn chồng, lột hết chăn ra, lấy tay vỗ bồm bộp vào mông chồng mà gọi.
– Có cán bộ đến!
Sùng đổi tư thế, chân tay khều chăn trùm lên hòng ngủ tiếp. Vợ Sùng quay ra, ngại ngùng bảo Páo:
– Cán bộ chờ tí nhé, nó uống rượu nhiều quá! Chưa gọi được nó!
Páo và Sử ngồi đợi đến năm phút thì mới thấy Sùng đầu bù tóc rối bước ra. Nhìn thấy Sử thì Sùng có vẻ ngần ngại. Sử chân thành hỏi chuyện mất cắp. Sùng cười nhạt:
– Ối dồ, có hai cái cày cũ thôi mà, làm ảnh hưởng đến thời gian của cán bộ quá!
Sử cũng cười.
– Thế đã tìm thấy chưa?
Sùng rụt cổ bẽn lẽn:
– Có thấy đâu, mất luôn mà!
Páo nhìn Sùng sốt ruột, hỏi chen vào:
– Thế lấy gì mà cày nương?
Sùng lắc đầu, như thể cái việc cày nương chả liên quan gì tới mình, hoặc không quan trọng lắm. Không biết đâu mà. Chết thật, cày bằng gì, giờ này còn chưa lo. Páo đã định nói thế thì Sử lên tiếng nói, vẻ mặt bỗng chốc nghiêm túc:
– Tôi có chuyện này muốn hỏi anh Sùng, anh hãy nhớ thật kỹ rồi trả lời tôi nhé!
Sùng gật đầu. Páo mở sổ ra. Người kể, người ghi. Người kể bằng cái giọng phổ thông còn ngọng, chỗ khó quá thì lại diễn tả bằng tiếng Mông. Người ghi thi thoảng lại dừng lại hỏi, xem là đã đúng như thế chưa. Sau khi hỏi đã kể hết chưa, Sùng gật đầu. Páo đọc lại cho Sùng và cả nhà nghe, hỏi đã đúng như thế đúng chưa thì Sùng bất ngờ bảo:
– Đấy là trưởng bản dặn kể thế, mình cũng không nhớ hết đâu. Còn sự việc thì…(chỉ sang vợ), nó biết nhiều hơn mình. Vì đêm ấy, mình ngủ say mà, có biết gì đâu!
Sử thở dài, nhìn Páo. Páo lật sang trang sổ mới, bảo vợ Sùng ngồi xuống bàn và lại bắt đầu. Vợ Sùng kể lại câu chuyện bằng tiếng Mông, đại khái là gần sáng thấy chó sủa nhưng không dậy vì nghĩ rằng chó nó tự sủa thôi, nó cũng hay sủa như thế. Đến sáng ra sau bếp xem thì thấy mất hai cái cày. Nhưng đứa con gái thì lại nói từ trước tết đã không thấy hai cái cày rồi. Ấy thế mà trước đó Sùng khai là nhìn thấy hai thằng đàn ông vác cày chạy xuống đường rồi lên hai con ngựa chạy mất về phía Láo Tả. Sử ra hiệu cho Páo dừng lại, gấp sổ, hai người đi ra sân. Vợ chồng Sùng líu ríu theo sau. Đến sân, Sử chỉ tay vào những cây cần sa mà hỏi Sùng:
– Những cây kia ở đâu ra? Ai cho anh hạt giống để trồng?
Sùng làm bộ ngơ ngác:
– Nó tự mọc thôi mà, có ai trồng đâu.
Sử vằn mắt:
– Đề nghị anh thành thật. Chúng tôi có thể xử phạt anh, nếu anh cứ quanh co. Chúng là một loại cây gây nghiện. Ai bảo anh trồng?
Sùng biết không thể nói dối nên lại đưa mắt sang vợ. Vợ Sùng lí nhí khai. Rằng trưởng bản Thào Chớ cho hạt về gieo, bảo là gieo nhờ, lúc nào được sẽ sang thu về nhưng chưa thấy nó có quả và cũng chưa thấy trưởng bản sang lấy. Páo nhìn thẳng vào mặt Sùng mà nói:
– Nhà trưởng bản thiếu gì đất mà phải gieo nhờ đất nhà anh? Nói để anh biết, đó là cây cần sa, phải ngay lập tức nhổ bỏ và đốt đi!
Sùng nghệt mặt ra vì có lẽ cũng chả hiểu cây cần sa là cây gì. Sử phải giải thích một lúc rồi mới vỡ nhẽ.
Thào Chớ được gọi xuống nhà Sùng trước khi những cây cần sa được nhổ lên. Và tất nhiên là Thào Chớ không thừa nhận cái việc nhờ Sùng trồng cấy gì cả:
– Nhà tôi thiếu gì đất mà phải nhờ nó? Và từ lúc chui ra khỏi bụng mẹ tới giờ tôi cũng chưa từng nhìn thấy cái loài cây lạ này!
Mặt Sùng đỏ gay lên, tức tối chỉ tay vào mặt Thào Chớ:
– Ông nói thế là sai rồi, là hai lưỡi, hai lời rồi. Đã thế tôi khai với cán bộ hết những gì ông đã xui anh em tôi làm từ trước đến giờ!
Thào Chớ tái mặt, đưa tay gãi gãi đầu, rồi nói, giọng lấp liếm.
– Có lẽ hôm đó tôi say cán bộ ạ, thấy gói hạt để lâu trên gác bếp, chả biết hạt gì, cũng chả biết ai cho nên đưa cho nó đem về trồng và cũng quên khuấy đi mất không xem lại!
Sùng đứng bên cạnh Sử, vung tay lên:
– Tôi nhớ ra rồi cán bộ ạ, cái cây này, nhìn quen lắm, ở Mùa Sán, nhiều nhà trồng mà!
Sử đưa mắt sang Páo. Páo cúi đầu. Rồi Thào Chớ nhìn Sùng. Sùng cũng cúi đầu. Những người cúi đầu là những người không biết cái cây lạ ấy là cây gì và trồng để làm gì?
***
Trong lúc Páo cùng vợ chồng Sùng nhổ hết đám cần sa lên, lôi về, chất ở góc sân, chờ đốt thì Sử nói với Thào Chớ:
– Trong lúc chúng tôi ngập đầu trong công việc, anh không giúp đỡ chúng tôi thì thôi, còn xúi dân phá đám. Anh là người Mông, tôi cũng là người Mông. Người Mông ta ở khắp Mùa Sán, khắp Ngải Thầu và Mường Thàng rộng lớn này. Chúng ta cùng uống chung một nguồn nước, cùng thở chung một bầu khí trời, cùng có chung một Giàng. Mà sao anh không tin tưởng chúng tôi, tin tưởng đường lối của nhà nước, lại đi nghe lời bọn xấu xúi giục để làm hại tới đồng bào, tới chính quyền?
Nghe những lời ấy thì Thào Chớ tím mặt. Vẻ tức giận, căng thẳng, bức bối hiện rõ. Sử bắt buộc phải tiếp tục tấn công trong tình thế không thể khoan nhượng:
– Việc này, chúng ta hoàn toàn có thể giải quyết nội bộ với nhau, nếu như anh biết nhận ra những việc mình làm làm là sai trái…
Thào Chớ vung tay, chém vào không khí rồi chỉ thẳng vào mặt Sử mà nói át đi:
– Đủ rồi, mày là cái thá gì mà đòi dạy dỗ tao? Mày có giỏi thì lên Mùa Sán này mà xóa đói giảm nghèo cho bà con đi. Tao đố mày làm được cái công việc mà Thào Chớ này đã làm suốt mười năm qua đấy. Vài cái cây chết tiệt này thì là cái gì chứ? Mày về ủy ban hỏi mấy ông xã xem, các ông ấy có đến nhà tao để hút mỗi tuần không? Hả? Nó cũng như cây thuốc lá, thuốc lào của người Mông ta trồng trên nương kia thôi. Nếu nói nghiện, thì cái gì hút vào mồm chả nghiện? Còn mày bảo kẻ xấu xúi giục tao á? Chúng nó cũng chả đến nỗi xấu quá như chúng mày nghĩ đâu. Tao già rồi, tao biết ai xấu, ai tốt mà chơi. Mà chả ai xui khiến được. Tao cũng chả dại gì mà nghe ai xúi cả. Tao không làm trưởng bản nữa đấy. Tra cho ủy ban, đứa nào giỏi về mà làm!
Biết Thào Chớ bị kích động và đã tỏ ra khá bất mãn. Sử nhỏ giọng, mềm mại:
– Chúng tôi biết trưởng bản vốn có lòng thương dân và quan tâm tới bà con Mùa Sán nên mới nhắc nhở trước như vậy. Thôi, anh mệt rồi, về nghỉ đi. Hôm khác, chúng ta sẽ làm việc với nhau ngoài ủy ban xã.
Thào Chớ trề môi, tay chắp sau mông, ngoay ngoảy quay gót. Chỉ còn lại bốn người lớn và một đám trẻ con đi chơi về tụ tập trên sân. Chúng nhìn thấy màu áo của Páo và Sử thì có vẻ lạ lẫm, sợ sệt. Người Mông mà không mặc áo Mông, không đội mũ Mông thì hẳn là lạ rồi. Sử bảo vợ chồng Sùng tự tay băm nát cái đám cây cần sa kia rồi trộn với cỏ khô, đốt đi. Chứng kiến sự trở mặt của Thào Chớ, Sùng lấy làm ấm ức lắm, định nói gì đó với Páo thì Páo lại gạt đi:
– Thôi, anh Sùng cứ yên tâm, chúng tôi đã nắm được câu chuyện rồi!
Trên đường về, Páo hỏi Sử về cách xử lý những hành vi của Thào Chớ, anh thật bất ngờ khi nghe Sử nói:
– Xử phạt những hành vi ấy không khó. Cái khó là làm sao để hắn ta không tiếp tục gây rối và nhận ra bộ mặt thật của những vị khách quý kia đang ngày đêm xúi xiểm hắn mà thôi!
Thào Chớ về nhà, mặt như quả lựu đạn xịt. Thấy con chó chạy ra mừng, xán vào chân, Thào Chớ tung giày đá cho một phát. Con chó đau quá ẳng lên rồi cúp đuôi chạy mất. Thào Chớ lại chui vào hầm rượu. Ngày hôm nay, tính ra, Chớ vào hầm rượu đã ba lần. Sờ tay vào cái mũi cày cùn vẹt, Chớ giận sôi người. Cái kế ngu xuẩn, dốt nát này là của mấy thằng Kiều A. Nghe chúng nó mà làm theo, chả được gì ngoài cái nhục trát vào mặt, đến dày ra, đến ngứa ngáy.
Từ trước tết, Thào Chớ đã cho tay chân đi khoắng mấy thứ đồ linh tinh về giấu vào hầm rượu rồi. Mục đích là khiến cho bọn thằng Sử ăn một cái tết không ngon, kiểu gì cũng bị cấp trên khiển trách. Thằng Sùng chó chết, mất từ bao giờ rồi không biết, rồi đến sáng mồng ba mới phát hiện ra là hai cái cày cùn không còn. Mà phải có thằng chọc cho chó sủa mới biết. Rồi khi thằng Sùng biết, kêu lên thì nhiều thằng khác mới biết. Biết mà ì ra, không thèm báo cáo ai, cứ như cày người khác, nương cũng nhà khác, không liên quan đến mình. Phải có người xui là đi báo công an tìm cho thì mới đi báo. Làm thì lười, quanh năm túng thiếu. Người đâu mà người, tối ngày say sưa. Người ta, ngô lúa đầy gác bếp, hoa củ quả đầy vườn, còn chưa mê rượu đến thế. Đằng này…tức thằng Páo, thằng Sử thì ít mà tức thằng Sùng và mấy thằng vô dụng thì nhiều. Có khi, cán bộ chưa hỏi đến đã xun xoe khai hết ra rồi. Thằng này với thằng Lẩu chung nhau một họ, cấm có giữ gì được trong người. Ngay như cái cây cần sa, lạy trời, Thào Chớ lấy lá nó, hoa nó sấy khô, trộn với thuốc lào cho cán bộ Ngải Thầu hút mấy năm, giờ nó còn không biết cây gì. Mà kệ xác chúng bay. Cấm thì thôi, ông không trồng nữa. Ông vẫn đủ thuốc hút vài năm. Ông cứ cùn ra thế đấy, chúng mày làm gì ông. Cùng lắm, chúng nó làm to chuyện thì cứ khai ra mấy thằng Kiều A. Đố công an xã sang đó mà bắt chúng nó về ủy ban xã Ngải Thầu mà hoạnh họe. Cấm chúng nó đến Mùa Sán thì nó đến bản khác. Cấm chúng nó đến Ngải Thầu thì chúng nó đến xã khác. Cấm Mường Thàng thì chúng đến mường khác, thiếu gì nơi có người Mông sống. Chúng nó xấu hay tốt thì còn phải bàn thêm, nhưng có một điều rất sợ là chúng nó dai như đỉa. Không dễ gì cắt nó, cắt mối quan hệ với chúng nó như dùng dao sắc chém phựt sợi dậy rừng. Chúng nó luôn biết cách phong tỏa, ràng cuốn con người ta bằng đủ mọi cách. Ngọt ngào có, tiền bạc có. Toàn những thứ khiến người ta mê mẩn cả. Và cũng có lúc chúng còn dọa dẫm đấy. Dọa thì Thào Chớ chả sợ. Chả thằng Mông nào ở Mùa Sán này sợ vì dọa cả.
Mỗi lần gặp sự cố, trắc trở hay tức tối gì, Thào Chớ đều chui vào hầm rượu, cho cái không khí mát lạnh, thơm tho làm dịu đi mọi sự. Chui ra khỏi cửa hầm là tất cả lại thấy bình an, yên ổn như thường. Hầm rượu là thế giới riêng của Thào Chớ. Cả một thế giới được lên men lúc nào cũng ngất ngây bay bổng với đủ mọi thứ tưởng tượng hoàn hảo mà Thào Chớ vô cùng tự hào.

CHƯƠNG 14

Mấy ngày tết, Lẩu chỉ loanh quanh ở nhà. Năm nay khách đến ít, cũng chưa thấy đứa nào nhờ vả, cạy cục gì. Chưa đến nhà bố vợ, cũng chưa đến hội xuống đồng, cũng chưa đi xem đất đầu năm. Tự nhiên Lẩu cứ có linh cảm gì đó không tốt về cái năm mới. Kế hoạch cưới con Su nhà thằng Đái về làm dâu vẫn chưa được bàn bạc kĩ. Sáng mồng hai, đang khấn gọi âm binh về để cho Lẩu đãi rượu, đãi thịt thì vợ Lẩu hỏi một câu điên rồ.
– Âm binh có về ăn thật không?
Ngu chưa, không về ăn mà người ta lại mời gọi à?
Cái bàn thờ âm binh, Lẩu để góc sân, ngày tết trang trí giấy xanh, giấy đỏ lộng lẫy lắm. Vợ Lẩu hỏi thế vì vừa mới thấy Lẩu vãi gạo sống với muối ra sân thì gà, lợn đã sà tới. Lợn thì nhặt muối, gà thì nhặt gạo. Có khéo âm binh chưa kịp về ăn thì chúng đã chén no và ỉa đầy sân rồi.
May là em gái ruột của Máy, vợ Thào Chớ. Nó không đẹp nhưng lại khéo ăn khéo nói, khéo làm vừa lòng người khác. Thời ma thịnh vượng, một tháng Lẩu đi cúng theo bố đến mười ngày, khắp bản xa bản gần xứ Mường Thàng này. Vợ Lẩu ở nhà chỉ biết cơm nước, chăm con và làm đẹp. Nó sướng từ hồi ở nhà mẹ rồi mà. Lại được người chị gái có chồng là trưởng bản, suốt ngày xui em là phải thế này thế nọ.
Một dạo Lẩu bị xã phạt và nhắc nhở cấm hành nghề mê tín dị đoan nên không ra ngoài nữa, suốt ngày ở nhà. Trước đi triền miên nên không để ý đến việc vợ chơi hay làm gì ở nhà. Tiền bạc vào túi đều đều thì con người ta cũng bớt khó tính và không hay xét nét, bắt bẻ. Đằng này, ngồi nhà cả tuần trăng không làm ra xu nào mà tiêu tốn nhiều quá. Tiền dầu thắp, tiền mỡ lợn, tiền thuốc lào, tiền muối mắm, đậu phụ…tốn lắm. Cứ móc dần, móc dần ra tiêu. Mấy mà hết. Khi ấy Lẩu mới để ý đến nhà cửa, vườn vạng và củi đuốc. Rồi Lẩu chửi vợ, ngoa ngoắt hiếm thấy:
– Cái cỏ vườn nó sắp mọc vào háng mày rồi mà mày vẫn đứng soi gương được à?
Rồi thì:
– Bếp bẩn quá, nhọ từ mép mày nhọ đến nồi niêu ấm chén, mày cũng chỉ biết thêu thùa thôi à?
Lại còn tinh vi:
– Tao nghĩ mày không phải người H’Mông đâu á!
Hôm ấy, nghe chồng chửi, May lầu bầu trong mồm không rõ tiếng rồi ra vườn gỡ cỏ. Lẩu làm hai cốc rượu đầy có nắp rồi đi lên sàn nhà, quắp cái chăn nhung vào lòng, đánh một giấc. Đang lơ mơ thì nghe tiếng kêu thét của vợ. Lẩu chạy xuống cầu thang. Chạy ra sân. Đến giữa sân thì nhìn ra vườn. Rọi đúng vào mắt Lẩu là cái cảnh May, vợ Lẩu đang nửa nằm nửa ngồi, mắt nhắm nghiền, cái váy thổ cẩm tốc lên cao để lộ khoảng đùi trắng hếu. Ông Dính, bố Lẩu đang sục hai bàn tay vào trong váy con dâu làm gì không biết. Lẩu hùng hổ đi ra vườn, đến sát hai người thì phát hiện ra ông Dính đang dùng cái mảnh vải xà cạp của con dâu mà trói chặt cái đùi con dâu lại. Ông nói.
– Rắn độc cắn rồi, hút máu ra ngay nếu không là chết!
Lẩu nhìn xuống chân vợ, thấy ở đầu gối May một vết cắn bầm tím. Lẩu vội vàng ghé miệng vào mút lấy mút để.
Sau cái sự cố ấy, Lẩu thường hay sinh sự với bố đẻ. Ngay cả khi May thanh minh đủ lời, Lẩu cũng gạt đi không chịu tin. Cuộc sống căng thẳng, ngột ngạt lắm. Ông Dính vốn hành nghề cúng, nghề gia truyền. Ông được bà con dân tộc vùng Ngải Thầu này tin tưởng, quý mến lắm. Ai có việc nhờ cậy đến ông, dù đêm hôm, dù mưa gió giá rét ông cũng không quản ngại. Lễ vật thì tùy tâm thôi. Và không ai hiểu hơn ông về cái nguồn cội gốc gác của người Mông Hoa Mường Thàng trong buổi đầu khai phá và lập làng, lập bản ở đây cả. Vợ chết khi ông đang ở tuổi ba mươi, một mình nuôi đàn con năm đứa lớn lên cưới vợ, gả chồng, làm nhà, làm nương, ông không tái giá. Trong ba đứa con trai, Lẩu là út, tính tình thất thường nhất, ông vẫn thường cho Lẩu theo cùng trong mỗi lần đi cúng ở bản xa. Ông thường nói với Lẩu là cúng vì cái tâm, chứ không vì tiền, nếu làm vì tiền thì sẽ có ngày gặp quả báo. Mấy năm trước, sức khỏe ông sa sút trông thấy, Lẩu tính chuyện đi cúng thay bố nhưng ông không đồng ý vì Lẩu học ít, hiểu biết ít, lòng dạ lại tham lam, nghi kị. Sau cái lần giúp con dâu vì bị rắn cắn, ông Dính ít đến nhà Lẩu hẳn. Nhưng mỗi lần say rượu, Lẩu lại mò đến nhà anh trai, gọi bố ra để bóng gió chuyện này chuyện khác.
Hôm ấy, gần cuối năm, ông Dính nói sẽ đi Sìn Hồ ăn tết nhà bạn. Các con ông không ai biết Sìn Hồ là ở đâu cả. Vùng Mường Thàng này, không có cái bản nào, ngọn núi nào, con suối nào có tên là Sìn Hồ cả. Ông đi mười ngày không thấy về thì Lẩu và các anh chị em mới túa đi tìm. Tìm một tháng không thấy thì mới đi báo công an. Hồi ấy Páo còn là công an viên. Lẩu lấc cấc nói vào mặt Páo:
– Tao đố mày tìm thấy bố tao, nếu thấy tao thưởng cả con trâu!
Chính câu nói của Lẩu khiến mọi cái nhìn của người Mùa Sán hướng về phía Lẩu. Sau biết mình dại dột, tự Lẩu đi gặp cán bộ Sử để trình bày. Trong chuyện kể với Sử, Lẩu cũng nói về vợ mình, về con rắn độc và những lời nặng nhẹ trong cơn ghen tuông. Lẩu còn nói, nhiều lần trong giấc mơ, Lẩu thấy ông Dính về, rủ vợ Lẩu đi mất. Ấy thế, dù Páo hay Sử hay cấp trên của Sử cũng chả làm được gì. Ông Dính chết rồi. Và ông mang đi cả cái câu chuyện dài loằng ngoằng giữa hai bố con mà chả ai biết. Người nhìn thấy bộ xương của ông là vợ và con gái của Đái. Tính đến giờ, cái đầu vẫn chưa về với bộ xương. Tìm đâu có dễ, có khi họ cũng chẳng thừa hơi mà đi tìm nữa. Mà dù có thấy thì cũng chả để làm gì, chả kết tội ai được. Ở vùng này, có hai kẻ giết người lạnh lùng mà công an dù biết cũng không thể bắt nó cúi đầu chịu tội trước pháp luật. Đó là âm binh và lá ngón.
Chừng nào còn mo, còn thầy cúng thì âm binh còn đất, còn trời để sống. Chừng nào còn rừng, còn núi, còn nước, thì cây lá ngón còn mọc. Âm binh thì không ai biết mặt, nhưng lá ngón thì không biết trước rồi biết sau, khi nào muốn chết, cần chết thì người ta sẽ tự biết cái mặt lá ngón thôi. Thực ra âm binh không xấu bụng, không độc như lá ngón. Âm binh muốn cứu người, nhưng không cứu được thì người mới chết thôi. Thuốc của nhà nước đắt như bạc. Có cái đơn thuốc đắt ngang đồng bạc, mà người vùng cao bệnh nhiều, tật nhiều, có phải ai cũng có tiền đi bệnh viện mà mua thuốc để chữa đâu? Cái bảo hiểm của người nghèo khác nào cái thứ lá để nấu nước uống cho đỡ khát chứ không chữa được bệnh. Chữa rài chữa rạc, nằm đến khi còn da bọc với xương thì cũng phải khiêng về mà chết nhà chết cửa chứ. Nhưng mà thương nhau, xót nhau, không muốn để nhau chết trong tuyệt vọng, nên mới bàn nhau mời mo, mời thầy về cúng cho. Cúng để mà an lòng ra đi thôi, chứ mấy người thoát được con ma đất đã về gọi đi. Thầy mo thì cũng không uống nước lã, ăn quả xanh để mà điều binh khiển tướng đánh đông dẹp tây ngày này sang ngày khác được. Phải có rượu có thịt chứ. Thầy ăn thì ít mà người nhà, họ hàng ăn thì nhiều. Chả ai đóng cửa vào mà cúng dấm dúi với nhau cả. Cúng là phải có nhiều người xem. Người đến để chứng kiến cái cảnh con ma bị chém chết, bị đánh đuổi cơ mà. Chả có ai xem, thầy mo cũng không có hứng thú mà cúng hay yểm bùa gì cả. Thế nên tiền cúng cho người ốm cũng tốn gần bằng đi bệnh viện mua thuốc tốt mà thằng sống còn được ăn và âm binh có việc để làm. Lại không phải ăn chầu nằm chực và không bị người bệnh viện quát mắng rằng bẩn quá, mất trật tự quá…
Lẩu dù không được học nhiều như Páo nhưng cũng hết lớp ba, dở lớp bốn đấy. Đang đi học thì có dịch đậu mùa tràn về trường nội trú nên Lẩu sợ quá, bỏ học luôn, ai nói thế nào cũng không nghe. Học chữ là việc khó nhất trên đời. Khó hơn đi cày, vì cầm cày dễ hơn cầm bút, bút bé quá, toàn lọt tay. Khó hơn bổ củi vì củi nặng nằm im còn giấy vở thì nhẹ, cứ xô linh tinh. Khó hơn cúng vì cúng có vần, có nhịp, có điệu của người Mông, còn chữ phổ thông thì cứ gập ghềnh, gồ ghề thế nào ấy. Nói chung là khó. Bằng chứng là ở Mùa Sán, trạc tuổi Lẩu, chỉ có vài người biết chữ. Nhưng cũng chẳng mấy khi dùng đến chữ cả. Vì viết gì, cam kết gì, vay mượn gì, đều có người của ủy ban đọc cho nghe, rồi chỉ cần thò tay quệt mực đỏ, ấn một cái lên giấy là xong. Vì kí thì lâu, cũng chả ai đọc được cái thứ trông giống chữ ấy là gì cả. Cũng có lẽ vì cái vốn chữ nghĩa không được bao nhiêu nên Lẩu không biết phải làm thế nào mỗi khi lên cơn ghen với vợ. Mà trò đời, cái thằng hay ghen vợ, kiểu gì cũng vớ được con lẳng lơ. Thì thằng Páo kia, đi bạt mạng suốt ngày, suốt đêm, con vợ nó lại rất mực ngoan ngoãn, chăm chỉ. Trong khi vợ Lẩu, cứ hở ra phút nào là ngắm vuốt, là lúng liếng, lườm ngang, liếc dọc. Vì chưa lần nào bắt tận nơi cái việc làm sai trái của nó nên Lẩu chưa có lí do gì để trừng trị nó cả. Chả nhẽ lại đánh vì những cái cái liếc mắt vu vơ của nó. Ôi cái mắt nó nhìn, dù là nhìn cái ảnh ông bộ đội trên tờ báo thôi, thấy mà điên. Cái giống đàn bà đa tình, khi nó say mê cái gì, nó không thể nào giấu được cái ánh mắt. Chẳng cứ đàn bà, đàn ông cũng thế thôi mà.
Nhà Lẩu, không ai có cái tính đa nghi, ghen tuông ghê gớm như Lẩu cả. Nhưng cũng không ai lên án cái chuyện ghen của Lẩu. Vì đó là quyền của Lẩu rồi, kể cả việc Lẩu ghen với bố thì cũng không ai dám nói. Hình như có một lần Thào Chớ nói với Lẩu:
– Chú mày cứ hay ghen cho khổ. Vợ tao ấy, ra nằm ngửa trên tảng đá ngoài ngã ba kia, ba mưa, bảy nắng, chả ai ngó, chả ai rước, lại mò về. Mình càng ghen, nó càng muốn ngúng nguẩy đấy!
Thào Chớ nói thế có đúng không nhỉ? Nó nói nhiều câu đúng, nhưng câu này chắc là không đâu. Vì hỏi thằng Páo xem, một năm cái tổ hòa giải của Páo đi hòa giải bao nhiêu cặp vợ chồng suýt đánh chết nhau vì ghen tuông. Khi đã ghen lên, chẳng kể là bố con, anh em hay bạn bè thân hữu nữa. Nhưng đem cái ghen ra để bao biện cho hành vi của mình thì không ai chấp nhận cả. Ghen tuông lúc đầu là sự nông nổi, mù quáng về sau là một sự tính toán kĩ càng. Chính vì thế, ngay ở Ngải Thầu này, có đứa bị đi tù vì giết vợ gần chục năm rồi chưa thấy về. Chả có ai thăm nom cả, có khi chết trong tù rồi cũng nên.
Đái vẫn nhớ cái ngày rùng rợn ấy. Cái buổi chiều Đái mang chim đi chọi ở bên Tả Chải về. Đang cùng mấy đứa sướng ngất ngây vì con chim chọi nhà Lẩu được nhất thì nhìn thấy một cái váy phụ nữ Mông xập xòa ở bờ ruộng bậc thang. Lẩu thấy hay hay bèn rẽ lên xem, lúc ấy đang độ lúa quay ngang nhưng chưa ai gặt non thế cả. Mà lại chẳng ai chổng vộc lên mà gặt như thế cả. Lại gần, Lẩu nhận ra, cái đứa ấy không đứng, mà quỳ, đầu cắm xuống ruộng, nhưng ruộng không có nước. Lẩu lấy tay rụt rè vỗ vào mông nó. Cái mông cứng ngắc như cối đá. Lẩu bủn rủn chân tay chạy xuống đường. Mấy thằng kia chạy lên xem. Rồi một thằng bạo gan vần con mẹ ấy ra xem nó là con cái nhà nào, vợ đứa nào. Chúng nó thét lên hãi hùng. Cái mặt đứa đàn bà tím bầm, to phẹt, chẳng thể nhận ra là người quen hay người lạ nữa. Thế rồi cả bọn chạy về bản gọi người. Chưa đầy hai ngày sau thì thằng chồng nó bị công an tóm đi, lúc ấy mới biết rằng nó chết là do thằng chồng ghen tuông, lấy trạc ngựa thít cổ, treo lên rồi mang ra ruộng vứt.
Cái xứ này, những chuyện ghen tuông như thế thi thoảng lại xảy ra. Con người ta cứ như có ma quỷ trong người xui khiến ấy. Mấy ngày tết, Lẩu cứ nghĩ vẩn vơ chuyện chết chóc, chuyện tù tội, chuyện ghen tuông, chả tha thiết gì cả. Rồi Lẩu chợt nghĩ đến Đái, đến Chinh, nghĩ đến việc phải tạo dựng bè cánh. Anh em nhà Chinh vốn dòng dõi thổ phỉ, nói chuyện câu trước câu sau cùn lên là dùng nắm đấm rồi. Thân được với chúng nó cũng tốt. Nhưng mà thằng Sáng, con trai Lẩu…Lẩu gạt ngay cái suy nghĩ ấy đi. Phải thế. Phải thông gia với Đái thì mũi tên bắn đi mới hạ được hai con thỏ. Nghĩ thế, tranh thủ được phút nào hay phút nấy, Lẩu thường vận động con trai mình lấy vợ sớm. Lẩu nói với nó là con Su là đứa chăm chỉ, ngoan ngoãn và thật thà, còn cái hình thức thế nào, tự mày nhìn là biết. Thằng con đang đi học lớp tám ngoài huyện thoái thác. Rằng chắc gì nhà nó chịu gả mà bố cứ nói như thật. Lại không thật à? Chả có thằng nào chê bạc cả. Cùng lắm, cứ cái sách cũ mà làm, như ngày xưa tao làm với mẹ mày ấy, nhờ người kéo tuột vào rừng một ngày rồi thả ra, sợ cuống lên, chả lại gọi đến mà gả ngay. Chuyện cưới vợ cho con trai ở trong tầm tay Lẩu. Tuy nhiên, thằng Páo mà biết chuyện, kiểu gì nó cũng chúi mũi vào mà can gián.
Thì việc nó nó làm, việc ta ta làm. Can được Lẩu chứ sao mà can được anh em nhà thằng Đái. Chả việc gì mà phải sợ thằng Páo cả. Không chừng nó còn phải sợ Lẩu ấy chứ. Nó mà có đến, Lẩu sẽ nói việc này do Chinh và Đái quyết, mình chỉ làm theo thôi. Như thế cho chắc ăn. Đừng có cậy hơn người khác vài cái tiếng, vài cái chữ phổ thông mà đã là giỏi.