Nhà Thào Chớ là ngôi nhà gỗ dựng theo lối cổ của người Mông Hoa vùng núi đá Mường Thàng. Năm gian nhà gỗ và hai chái khá rộng làm bếp. Bản Mùa Sán có khoảng bốn chục hộ người Mông Hoa sinh sống và nhà của Thào Chớ là ngôi nhà to nhất, rộng nhất và cũ nhất. Mái nhà lợp bằng ván gỗ. Vách nhà thưng bằng gỗ. Tất thảy các vật dụng trong nhà đều bằng gỗ quý. Những cái cột nhà bằng gỗ nghiến không biết có từ bao giờ đều đã bóng nhoáng và đen nhánh bởi hơi khói. Trên cột nhà. Thào Chớ treo bộ da hổ khá lớn như cố ý phơi bày những uy quyền của chủ nhân nó. Rồi thì tạp nham đủ thứ móng gấu, sừng sơn dương, sừng hươu, móng vuốt hổ, nanh lợn lòi, bạ đâu treo nấy, lỉnh ka lỉnh kỉnh, rối hết cả mắt. Thào Chớ tự hào về mấy cái thứ ấy lắm. Rằng ông nội Thào Chớ là tay súng số một trong hội săn Mùa Sán.
Rằng hơn chục năm trước, khi có pháp lệnh thu hồi súng săn, anh em nhà Thào Chớ nộp cho nhà nước hơn ba mươi khẩu các loại. Mà giữ cũng chả để làm gì. Rừng có còn thú to đâu mà bắn. Loặng quặng lại bắn phải người, đền ốm. Có khi còn phải đền mạng. Trên một bức tường nhà Thào Chớ còn treo một tấm bản đồ bằng da dê đã mờ hết những đường nét nhưng Thào Chớ vẫn lấy thước chỉ chỏ vào đấy và tự hào rằng đây là bức bản đồ cổ nhất về Ngải Thầu. Theo như Thào Chớ, Ngải Thầu thời xưa ấy còn bao gồm cả Kiều A nữa cơ. Cứ treo đấy, để mấy thằng Kiều A qua lại nhà Thào Chớ còn biết rằng chúng với Thào Chớ là anh em chứ.
Những gian nhà của Thào Chớ cũng rất rộng, chia làm những buồng nhỏ đủ cho hai thằng con trai lấy vợ về ở mà không cần làm nhà ở riêng và mấy đứa con gái nữa. Có cả mấy buồng để khách khứa ở xa về ngủ. Nhà của Thào Chớ tuy rộng nhưng rất tối vì mái nhà chờm xuống thấp, trùm hết một khoảng hiên khá rộng để chứa củi, thức ăn cho gia súc, gia cầm. Sau này có điện thì thế nào không biết, chứ giờ, thắp cả chục cái đèn cũng chả ăn thua gì cả. Tiền dầu đốt của nhà Thào Chớ một đêm bằng nhà nghèo ở Mùa Sán thắp cả tháng. Chỗ nương nào nạc nhất, ít đá nhất ở Mùa Sán này cũng là của Thào Chớ thì phải. Từ xa xưa, cụ, kị, ông cha của Thào Chớ đã khôn ngoan rồi, biết chọn đất tốt để ở, để trồng hoa màu. Biết chọn gỗ tốt làm nhà. Biết chọn bạn trung thành để chơi. Biết chọn vợ nhẫn nhịn để sai bảo.
Mùa hè nóng nực, bước vào nhà Thào Chớ, cảm giác như đang có trăm thằng hầu quạt cho. Mùa đông giá lạnh. Nhà Thào Chớ lại ấm như có chục bếp lửa đốt. Thào Chớ không trồng ớt nhưng ớt khô chất đầy gác bếp, ớt tương có cả chum. Thào Chớ không nuôi ong nhưng mật ong lúc nào cũng sẵn hàng chum. Thào Chớ không trồng thảo quả nhưng người ta biếu Chớ cả chục cân dùng dần. Những của ngon vật lạ, thứ gì có ở Mường Thàng hay xứ núi lân cận nào đó, Thào Chớ đều có. Chưa kể thứ gì, con gì nhà Thào Chớ trồng được, nuôi được đều cũng rất nhiều. Thế nên, giữa cái chốn heo hút, nghèo khổ, tăm tối như Mùa Sán, đời sống vương giả như Thào Chớ là ước mơ của bao người. Từ ngày Chớ lên làm trưởng bản, Thào Chớ bắt đầu học làm sang và khoe mẽ. Chớ khoe từ con ngựa là giống ngựa quý từ cái vùng đất nào đó bên nước láng giềng cách cả nghìn cây số. Chớ khoe từ con gà chọi ba cựa đến con chim họa my có bộ ria dài thẳng tắp. Chớ khoe từ con chó xồm xuất xứ Bản Pho đến khoe mèo mun được lai tạo với mèo rừng. Cái gì của Thào Chớ cũng phải là nhất. Khen Chớ một câu thì Chớ mời uống một bữa rượu, hai câu hai bữa rượu và ba câu là thành khách quý. Nhưng đừng có mà khen mãi cái câu người khác khen thành lối mòn rồi, ví dụ như nhà to, rượu ngon, nương rộng, hướng nhà tốt…Mà phải khen cái gì đó thuộc về năng lực, về sự chịu ăn chịu chơi khác người hoặc lòng tốt của Chớ cơ, thì mới được thưởng.
Chính vì cái sự ham thích được khen ấy mà từ cách đây rất nhiều năm Thào Chớ đã rơi vào tầm ngắm của những kẻ phản quốc lưu vong xứ người. Chúng cũng là người Mông, là người Mường Thàng, vậy mà khi sống trên một lãnh thổ khác, chúng sẵn sàng quay đầu nói xấu Tổ quốc, bôi nhọ chính quyền và nuôi dưỡng âm mưu dùng bàn tay đồng bào bản địa để gây rối, phá hoại cuộc sống. Chúng nó muốn mãi mãi đẩy Mùa Sán và nhiều làng bản khác của Mường Thàng vào cảnh tăm tối vì thuốc phiện, nghiện ngập, trộm cắp, mê tín, lạc hậu và đói nghèo. Những lời này, đã có ai nói với Thào Chớ chưa? Có đấy. Chính là thằng Chinh, trước ngày nó ra đầu thú. Chính vì thế mà Thào Chớ như ngồi trên chảo lửa. Phải tiến hành ngay đại cuộc. Nếu để chậm hơn, khi thằng Lẩu cũng sa nốt vào tay công an thì mọi sự khó khăn gấp trăm lần. Mở màn cho cái mà Thào Chớ gọi là “chiến dịch vận động” ấy là một hành vi điên cuồng. Đó là tấn công Páo, dưới danh nghĩa cá nhân chuyện mua bán cấm đoán ở chợ. Tuy nhiên, cái màn kịch quá dở ấy đứa đui mù cũng phát hiện ra chân tướng. Nó đau nằm nhà có mấy ngày, giờ đi lại như thường rồi.
* * *
Những ngày cuối tháng năm, nắng như thiêu như rụi, đến núi đá cũng muốn nứt ra, nẻ ra. Cây cối rũ rượi trước những cơn gió Tây nóng quay quắt. Sín Chải lại mất điện. Lác đác trên con đường từ ủy ban xã lên Mùa Sán là những lán thợ dựng tạm bợ để chuyển vật liệu lên. Nghe nói điện sẽ lên Mùa Sán vào năm nay. Cũng nghe nói con đường dân sinh sẽ mở rộng ra khoảng hai mét cấp phối, đủ để xe máy phóng lên được. Cánh thợ của công ty, tốp phụ trách kĩ thuật thì làm lán trên sân của ủy ban, còn lại những công nhân khuân vác đập đá, kè đường, lao động chân tay thì dựng trại, lán ngay tại chỗ thi công để ăn ngủ.
Vào giờ trưa, các lán đều đồng loạt nhóm lửa thổi cơm. Nóng lại thêm nóng. Đàn ông ở trần, mặc quần cộc tới đầu gối, tóc tai lòa xòa rậm rạp, két đầy bụi đá. Được cái, ngày nóng và muỗi dĩn nhiều thế, nhưng cứ đêm đến là hơi núi lại phả ra điều hòa không khí, trời cũng dịu đi để cho người ta ngủ được. Dân Mùa Sán và mấy bản nữa, biết sắp có đường to đi, sắp có điện chiếu sáng thì vui mừng, háo hức lắm. Dòng người tứ xứ ở khắp nơi bỗng đổ cả về Mùa Sán, mang theo bao nhiêu thứ tệ nạn, mà từ trước Mùa Sán cũng đã sẵn có rồi, giờ chỉ thêm nhộn nhịp, công khai mà thôi. Chả có ngày nào là không có đánh đấm, cãi vã nhau do bài bạc, phiện sái. Rồi thì mất cắp công cụ sản xuất, rồi thì đốt lán của nhau.
Rồi thì mất trộm cả cả xăng dầu, gạo nước. Bọn nghiện ở Mùa Sán bỗng nhiên lại có đồng ra đồng vào để trang trải.
Sử, Páo và đội ngũ công an viên đi không bạ nhà. Mồ hôi lúc nào cũng ướt đầm lưng áo. Giày dép trèo trên đá sắc rải đường thì há hết mõm ra. Không giúp được gì cho vợ con, cha mẹ nên cũng ái ngại mỗi khi về nhà vào lúc nửa đêm, cả nhà đã ngủ hết cả. Cuộc họp nào Sử và Páo cũng bị lãnh đạo xã chỉ trích. Páo sốt ruột muốn Sử trực tiếp xin ý kiến chỉ đạo của cấp trên nhưng Sử nói phải chờ cơ hội. Lời khai của Máy, sự bỏ trốn của Lẩu và việc Chinh ra đầu thú, mới chỉ là một phần rất nhỏ trong số rất nhiều những chứng cứ mà cơ quan chức năng phải gom đủ mới có thể tiến hành. Và muốn chúng cúi đầu nhận tôi, không có cách nào khác là phải bắt quả tang hành vi vi phạm.
Thào Chớ tỏ ra tận tụy với dân, chỉ để xúi giục dân Mùa Sán gia tăng đòi hỏi với chính quyền. Và quãng thời gian các dự án đường, điện của chính phủ triển khai tại Mùa Sán là rất lý tưởng cho Thào Chớ triển khai mọi kế hoạch đã ấp ủ từ trước. Đã mấy tháng kể từ khi Lẩu trốn thoát đến nay, Thào Chớ chưa thấy tình hình phía công an có động tĩnh gì cả. Thằng Chinh thì vẫn chưa thấy xử, hay là xử rồi mà Chớ không biết? Có lẽ thằng Páo và thằng Sử chưa đủ tài để thuyết phục cấp trên về những điều chúng đã nắm bắt được ở Mùa Sán. Công an trên huyện ngoài tỉnh, họ trăm công ngàn việc, ai hơi đâu mà nghe những thông tin mu mơ, mù mờ từ mấy thằng công an xã nói tiếng phổ thông còn ngọng, viết cái báo cáo còn đầy lỗi chính tả. Và có lẽ chẳng ai tin rằng người Mùa Sán lại dám làm những việc kinh khủng như vậy.
Ngày thứ bảy hàng tuần, các vị quan khách ủy ban vẫn kéo nhau về nhà Thào Chớ nhậu nhẹt, tung hô và còn dự đoán rằng khóa tới Thào Chớ có thể sẽ có vé vào hội đồng. Trước mặt các vị quan khách, Thào Chớ chỉn chu mẫn cán, nhỏ nhẹ, khiêm tốn. Trước dân, Thào Chớ ngọt nhạt, hào phóng, đại lượng. Nhưng khi đối mặt với Sử và Páo, Thào Chớ lạnh lùng, tỏ thái độ khinh miệt, rằng các chú còn non nớt lắm, chưa thể là đối thủ của tao đâu. Vì thế, Sử có nói thế nào thì Đảng ủy cũng không tin. Họ tin rằng mọi thứ đang được kiểm soát rất tốt. Họ còn nói rằng Sử ghen ăn tức ở, cố tình nói thế để chia rẽ, gây bè phái. Những cá nhân nào dù công khai hay trực tiếp ủng hộ Sử thì đều ngay lập tức nhận được thông điệp ngầm với nội dung hạn chế quyền lợi từ bộ máy chính quyền cơ sở.
Ngày phiên, Thào Chớ đang uống rượu trong quán thắng cố thì một lão già vẻ mặt khắc khổ khật khưỡng đi đến. Giọng lè nhè:
– Mày có nhận ra tao không?
Thào Chớ nhìn lão ta mấy lần. Nhìn ngang, nhìn dọc. Chịu chết. Giờ thì không nhớ được lão ta là ai. Lão già ngồi xuống ghế, làm một điếu thuốc lào từ cái điếu mang theo, lim dim nhả khói rồi nói:
– Tao là Séng, bên Na Cồ. Séng bị thằng em rể mày cúng chết vợ năm ngoái đấy. Hôm nay tao phải về Mùa Sán đòi nợ thằng Lẩu mới được!
Thào Chớ cười nhạt, nhận ra lão Séng. Lão này là bạn của anh rể Thào Chớ:
– Thằng Lẩu không có ở Mùa Sán đâu mà tìm, nó đi mấy hôm rồi. Sao trước không tìm, giờ mới tìm nó?
Lão Séng đưa tay lột cái mũ trên đầu ra, sục tay vào mái tóc bù xù, gãi sồn sột, bụi gàu bay tứ tung, lả tả:
– Trước tao tưởng là ma bắt vợ tao đi thật. Nhưng giờ thì biết là nó bị bệnh để lâu không chữa thì chết. Mà tất cả là do thằng Lẩu lừa. Đi xem cái phim của nhà nước về, mới ngộ ra!
Thào Chớ thở phào:
– Thì đằng nào người cũng chết rồi. Giờ bắt đền thì nó lấy gì mà đền? Có con vợ nó ở nhà thôi!
Lão Séng, gật gù:
– Đứa em trai tao hôm trước cũng suýt chết, đã chuẩn bị làm ma rồi mà, may mà tìm được ông thầy tốt, nó về cho thuốc và cúng là khỏi tịt luôn đến giờ!
Thào Chớ thấy ngạc nhiên. Lâu lắm mới nghe tin một ông thầy cúng giỏi thế. Bèn hỏi:
– Thầy cúng vùng nào mà tôi không biết nhỉ?
Lão Séng gật gù:
– Nó không phải là thầy cúng, mà là thầy pháp, bên Mường Lác. Tao làm gì có tiền mà đi đón nó. Chẳng qua, nó có việc đi tìm bà con trên Na Cồ thì gặp việc thôi!
Thào Chớ nghe thế thì bán tín bán nghi. Mấy năm gần đây, người Mông Mường Thàng vẫn truyền tai nhau câu chuyện về ông thầy pháp người Mông Mường Lác tài ba lắm, có trong tay ba mươi vạn âm binh. Tên là gì ấy nhỉ? Thào Chớ vỗ đầu bôm bốp. Cái đầu đang ong ong vì rượu không nhớ được. Thào Chớ chợt láu cá hỏi:
– Thế nó tên gì? Ông nói xem có trúng cái tên mà tôi đã từng nghe thấy không. Cái thầy pháp mà cúng cho em trai ông ấy?
Lão Séng lấy hai ngón tay vê vê vào nhau, vòi vĩnh. Thào Chớ nghĩ. Lão già này gớm thật, chưa chi đã đòi tiền. Thào Chớ gọi chủ quán một chai rượu và bát thắng cố đầy tú hụ. Lão Séng thong rót rượu ra cốc, tợp một hớp to. Rồi bưng bát thắng cố lên, làm một ực nước thắng cố. Liếm mép đâu vào đấy rồi mới nói:
– Mã Seo Gà đấy. Đã đúng chưa?
Thào Chớ giật bắn cả người. Đúng rồi. Thằng Lẩu nói có lần giáp mặt thầy pháp Mã Seo Gà ở phố huyện Mường Thàng mà lại. Lẩu nói, Mã Seo Gà trạc ngũ tuần, dị tướng, thông thạo hơn chục thứ tiếng người thiểu số, cả tiếng Tàu nữa. Vì thế Mã Seo Gà có rất nhiều âm binh, âm tướng dưới quyền. Gần chục năm nay nó làm mưa làm gió toàn bộ vùng Tây Bắc này. Đại sự của Thào Chớ mà không mời được nó về trấn yểm giúp thì khó mà thành. Thào Chớ đã từng chi tiền cho thằng Lẩu đi tìm Mã Seo Gà, nhưng cái thằng Lẩu chỉ giỏi ba hoa, tìm không thấy người, lại nói là Mã Seo Gà biến hoa khôn lường, lúc thành con quạ bay trên trời, khi thành con cá bơi dưới nước nên không tìm được. Trời đất dun dủi thế nào lại có chút manh mối. Thào Chớ bèn hỏi lão Séng:
– Thế hiện giờ ông có liên lạc được với thầy không?
Lão Séng dương dương tự đắc:
– Được chứ! Nhưng mà…
Lão lại vê hai ngón tay vòi vĩnh. Lần này thì Thào Chớ rút ví, lấy ra năm chục nghìn, nhét vào túi áo lão Séng. Lão Séng cười tít mắt. Rồi lại đủng đỉnh rút ví, bỏ tiền vào, sau đó, lôi ra từ trong ví một mẩu giấy nhỏ xíu, nhàu nhát. Cái số này, lão Séng bán đến chục lần rồi đấy:
– Đây, tao đọc, trưởng bản mượn giấy bút mà ghi vào!
Thào Chớ chạy đi xin giấy bút loanh quanh mãi mà không được, phải đi mua một quyển vở học sinh và một cây bút bi. Đếm đi đếm lại. Mười chữ số tròn trĩnh. Nhưng mà ở đây, chả ai dùng điện thoại cả. Mạng thì có nhưng điện không có nên không ai dùng. Nghĩ thế nào đó, Thào Chớ chạy sang tiệm bọc răng vàng di động của thằng nha sỹ Kiều A. Thằng này hào phóng cầm lấy quyển vở đọc số và bấm. Nó có cái điện thoại to bằng miếng đậu phụ, nhưng mỏng dính và đến là nhiều mầu. Nó gọi ba lần, bên kia có tiếng nhạc Mông “tù tí tù, tí tí tù”. Trống ngực Thào Chớ đập thình thịch. Lần thứ tư, thì bên kia có tín hiệu bắt máy. Thằng Kiều A đưa điện thoại cho Thào Chớ. Thào Chớ cầm lấy điện thoại, đưa lên tai, vẻ sành điệu cho dù đây là lần thứ hai, thứ ba gì đó Thào Chớ nghe điện thoại:
– Thào Chớ đây!
Đầu bên kia, một giọng nói chả rõ nam rõ nữ:
– Thào Chớ là ai, phải nói rõ ràng chứ?
Thào Chớ vội vàng bổ sung cho phần giới thiệu thêm rõ ràng, long trọng:
– Mình là Thào Chớ, người Mông, trưởng bản Mùa Sán!
– Mùa Sán là cái chỗ nào?
Thào Chớ bực quá, định quát lên. Ở đâu cái thằng ngu thế, không biết Thào Chớ là ai đã đành, đến Mùa Sán mà cũng không biết. Nhưng thấy lão Séng nháy mắt ra hiệu thì nhũn nhặn:
– À, Mùa Sán ở Ngải Thầu!
– Ối dồ, có bao nhiêu cái Mùa Sán, bao nhiêu cái Ngải Thầu ta đã đi qua và chưa đi qua, làm sao biết được. Nó có ở Việt Nam không?
– Có, có chứ. Ngải Thầu, Mường Thàng mà!
– À, Mường Thàng thì ta có biết, nơi có cái Na Cồ giáp đường biên ấy gì!
– Đúng rồi, Mùa Sán cũng giáp biên. Tôi định nhờ thầy giúp cho tí việc, nói ở đây không hợp lắm!
– Tý việc thì ta không đến đâu!
– Không, không, việc nhiều, việc lớn đấy. Ta sẽ trả thầy nhiều tiền mà, ít nhất là hai chục đồng bạc!
– Ừ được rồi. Phiên chợ sau ta đến. Đúng bảy giờ sáng. Ngươi mà sai hẹn là không được với ta. Ta sẽ cho đồ đệ san phẳng cái xứ đá Mường Thàng ngay!
Thào Chớ vâng dạ, hứa hẹn một hồi vã mồ hôi rồi đưa điện thoại trả cho thằng nha sỹ.
Quay về quán thắng cố. Bà chủ quán thắng cố hỏi:
– Có gặp nó không?
Thào Chớ trừng mắt:
– Bà biết gì mà hỏi, việc người lớn!
Nói rồi Thào Chớ đứng dậy, trả tiền cho bà ta, bỏ mặc lão Séng đang lè nhè gì đó mà đứng dậy ra về luôn.
Hôm ấy, ở chợ về Thào Chớ mừng ra mặt. Mừng đến nỗi ăn xong bữa cơm mà chưa biết là xong. Thế là cuối cùng cũng được gặp thần tượng Mã Seo Gà. Thào Chớ trằn trọc cả mấy đêm để nghĩ ra những kế hoạch nhờ thầy pháp làm giúp. Thứ nhất là phải điều động lực lượng. Thứ hai là phải xử lý thằng Sử với thằng Páo.
Rồi cái ngày ấy cũng đến. Thào Chớ chầu chực ở tiệm bọc răng của thằng Kiều A để đợi điện thoại. Cứ có chuông điện thoại là Thào Chớ lại mừng quýnh lên. Thằng kia nghe điện thoại rồi nhìn Thào Chớ lắc đầu. Mà sao lắm người gọi đến thế, toàn con gái thì phải. Cái mắt thằng Kiều A cứ lúng liếng, đưa đẩy, giọng thì ngọt xớt. Chợ đã đông người lắm rồi. Nhìn thấy toàn người quen đến tiệm bọc răng vàng, Thào Chớ phải lượn ra chỗ khác đứng. Đúng mười một giờ trưa thì thầy pháp mới gọi đến, nói là đã ở cổng chợ, đi con ngựa bạch có hàm thiếc bằng bạc. Thào Chớ run hết cả người. Vị chi là thầy đến muộn mất bốn giờ đồng hồ. Thào Chớ cùng thằng con trai đi ra cổng chợ. Kia rồi, một người đàn ông ngoài khá cao lớn, tuổi trạc năm mươi, đôi mắt tinh anh, bộ râu dài và trang phục Mông của xứ Mường Lác rất khỏe khoắn. Nhìn qua biết ngay đó đúng là Mã Seo Gà, như những gì mà mọi người từng đồn đoán. Con ngựa của thầy pháp là giống ngựa quý, hiếm. Cả cái xứ Mường Thàng rộng mênh mang thế này, họa còn vài con.
Thào Chớ chạy lại, xưng tên, ông thầy pháp giơ tay ra cho Thào Chớ bắt một cách hờ hững, vẻ mặt có chút kiêu ngạo đáng ghét. Tuy nhiên, đôi mắt một mí, cái mũi tẹt và bộ lông mày rậm thì đúng là người Mông rồi.
Cả cái giọng nói, âm điệu và cách thầy thưởng rượu cũng đúng là của người Mông. Sau khi thiết đãi nhau no say. Thào Chớ tỏ ý muốn xem thẻ căn cước của thầy pháp. Thầy pháp có vẻ không hài lòng, nhưng vẫn chìa tấm chứng minh thư ra. Tiện thể thầy còn khoe cái điện thoại to, đẹp. Trong điện thoại còn có cả bản đồ Mùa Sán của Thào Chớ và cái đường biên giởi nhỏ như sợi chỉ đỏ nữa. Thầy bảo, dọc đường, khi cưỡi ngựa, thầy toàn ngủ, cứ mặc cho âm binh dắt ngựa đi thôi. Thào Chớ đưa tay chạm vào cái túi đeo bên người của thầy pháp. Thầy bảo. “Túi càn khôn đấy. Trời đất ở trong này hết”. Mã Seo Gà thật. Thào Chớ tự hào dẫn vị khách quý về Mùa Sán. Mỗi người một ngựa. Con ngựa tía của Thào Chớ đi trước, ngựa bạch của thầy pháp theo sau.
CHƯƠNG 22
Mùa Thị Máy nằm trong hầm rượu ẩm ướt tối tăm mấy ngày đêm rồi cũng không nhớ nữa, người sắp thành con ma xó. Tóc tai rũ rượi, người ngợm chua loét, hôi hám. Mỗi ngày Thào Chớ mang vào cho một bát cháo loãng cầm hơi, mà con cái không hay biết gì cả. Một đêm, Máy bị lôi ra, nhét vào một căn buồng nhỏ vốn là nơi để chăn đệm cho mùa đông. Thào Chớ đưa cho Máy hai viên gì đó. Máy uống vào thì ngủ mê mệt không biết gì nữa. Mở mắt vì cảm giác đau đớn xiên vào óc, lên tận đỉnh đầu. Máy có cảm giác ai đó vừa nhổ răng mình. Máy vùng đứng dậy. Thào Chớ dúi Máy nằm xuống, hăm dọa:
– Mày mà ra khỏi nhà thì chết với tao!
Máy nằm im. Nước mắt chảy xót hết cổ. Lạ chưa, nằm trong hang bao nhiêu ngày mà các con, các cháu của Máy vẫn tưởng mẹ về bà ngoại. Lạ chưa, khóc bao nhiêu ngày mà nước mắt vẫn chảy ra được. Máy nghe loáng tháng trong nhà bàn nhau, rằng Thào Chớ đã đón được thầy Mã Seo Gà cao tay về yểm bùa quanh nhà. Nếu thoát ra khỏi đây, Máy sẽ tìm ngay vài cái lá ngón. Để kết thúc cái cuộc sống nhục nhã thế này. Trước khi đi, Máy muốn một lần nhìn mặt thấy pháp xem vuông tròn làm sao?
Máy lịm đi trong những suy nghĩ quẩn quanh. Vì hai tay vẫn trong vòng dây trói và miệng bị nhồi giẻ. Nhưng cái tai của Máy còn đủ tinh tường. Cái tai bị đánh thức bởi tiếng nói của kẻ nào đó âm âm, u u vọng về như một thế giới khác. Hay là tiếng của thầy pháp? Có lẽ là tiếng thầy pháp thật. Cái tiếng nói ấy vang lên ở ngay ngoài sân kia, nỉ non, não nùng làm sao. Bài cúng dài lắm, Máy không nhớ hết được, chỉ lõm bõm. “Bớ những oan hồn, hồn sông hồn suối, hồn núi, hồn rừng, hồn dại đi lạc, hồn thiêng đúng đường, mau mau về tại, để ăn cúng dường, để uống rượu ngọt, để ngửi hoa thơm, để giúp quan anh, làm nên nghiệp lớn…”. Máy không biết vì sao Thào Chớ lại gọi thầy pháp đến yểm bùa quanh nhà mình và cửa hầm rượu. Thầy pháp có phải người Mông không mà lại biết nói tiếng Mông giỏi thế. Xưa nay, việc này, em rể Máy, thằng Lẩu, chồng con May vẫn làm. Nó bảo quanh nhà nó âm binh xếp ba hàng vòng quanh. Kẻ bụng dạ xấu, mưu đồ xấu không thể lọt vào nhà. Mà có vào thì cũng bị vặn cổ chết tươi. Cũng có lần Lẩu nói, trong người vợ thằng Đái có con ma núi Plâu ngự, ăn mòn hết tim gan. Lẩu phải điều ba thằng âm binh vào chiến đấu với nó thì mới lôi được con ma ấy ra. Nhưng vợ Đái vẫn chết là vì nó biết rằng sớm muộn con ma ấy cũng quay lại nên thà rằng ăn lá ngón mà chết trước. Ấy thế, với người khác, dường như quên, Đái lại kể rằng trong quá trình tuyển âm binh, Lẩu không xét kĩ lai lịch gốc gác nên trong đội quân âm binh của Lẩu có mấy tên vốn xuất thân là những gã trăng hoa đàng điếm bị thần chết bắt đi đày ở đảo Cô Hồn. Nghe thấy Lẩu mời về thì chúng cũng tìm cách trốn về. Làm việc thì biếng, chưa được bao lâu thì đã đổ đốn, thấy gái đẹp là quên hết nhiệm vụ. Chúng nó nhốt hồn vía của vợ Đái vào một chỗ, thay nhau sàm sỡ chọc ghẹo, khiến cho cô ta nhục quá tìm lá ngón ăn mà chết. Vì cô ta chết mà Lẩu phải trả lại bạc đấy. Nuôi cái lũ phản thừng ấy trong nhà cũng nguy hiểm lắm.
Vùng này, cây lá ngón mọc khắp núi khắp rừng, ngay sau chuồng ngựa nhà Đái cũng có bụi to tướng. Càng phát nó càng mọc. Càng triệt nó càng tốt. Nghĩ đến lá ngón, Máy thoáng rùng mình. Tuy nhiên, việc trước tiên là phải thoát ra khỏi đây đã
* * *
Thầy pháp dáng người cao lớn, mặc cái áo lụa đen, có sọc đỏ và đi đôi hài trắng, bịt cái khăn trắng trên đầu. Thầy ngồi xếp bằng trên cái chiếu trúc. Xung quanh thầy la liệt những lá phù bằng giấy đỏ có viết những cái chữ bằng mực đen. Chữ gì thì Thào Chớ chịu chết. Thầy pháp rất khó đoán tuổi. Lúc thầy nhắm mắt lại, cầm nắm hương khua khoắng quanh bàn thờ thì trông thầy trẻ hơn Thào Chớ. Khi thầy mở mắt ra, có lúc trợn ngược vẻ không hài lòng với ai đó thì trông thầy lại già hơn Thào Chớ. Bộ râu của thầy dài như là râu giả nhưng cái màu hung hung và cái sự loăn xoăn, rối bù thì giống thật. Trên mép thầy là hai vệt nhọ nồi vẽ rất cân đối. Thào Chớ cũng không biết thầy trang trí hai vết nhọ ấy ở mép để làm gì? Thầy chỉ vào các lá phù khác nhau và nói:
– Cái này để ghi tên các vị thần ở cõi dương, xứ sở mặt trời. Thần sông, thần suối, thần núi, thần rừng, thần nước, thần đất…Còn đây là những vị thần cai quản cõi âm thuộc sứ sở mặt trăng như phủ Diêm vương, thủ thư của Thần Chết, mật thất của các vị quan Địa phủ…
Thào Chớ sốt ruột:
– Thôi thầy không phải giảng giải nữa, thầy điều binh về ngay cho, càng đông càng tốt, ngay hôm nay, việc gấp gáp lắm rồi!
Thầy pháp giơ tay lên:
– Ấy chết, việc này đâu có thể vội vàng. Tôi giúp ai cũng đầu cuối cả. Nếu tìm được âm binh tinh nhuệ thì mười thằng bằng cả trăm thằng, gia chủ đỡ tốn rượu thịt nuôi binh!
Thào Chớ xua tay:
– Khỏi lo, rượu ta có cả trăm chum, thịt có cả đàn dê kia rồi, nếu cần thì mổ cả ngựa. Thầy cứ chiêu đãi họ hậu hĩnh. Cái bọn “dương binh” ăn thì tốn mà không được cái việc gì ra hồn!
Thầy pháp cười, nụ cười lạnh tanh, phả ra toàn âm khí:
– Trần sao âm vậy, mình tuyển lựa kĩ càng mới mong được việc. Âm binh cũng giống người trần, có kẻ anh hùng, mưu lược, có đứa bất tài ăn theo. Có thằng chưa gì đã hèn nhát bỏ cuộc, rồi còn bị mua chuộc nữa. Chưa kể là khi sái ý chúng, chúng phật ý, phá rối thì hỏng hết đại sự!
– Lại còn rắc rối đến thế sao?
Thào Chớ có vẻ nôn nóng, nhặt lên một lá bùa với những cái chữ loằng ngoằng và hỏi:
– Tên ai đây?
Thầy pháp lấy tay giật lấy lá bùa, sợ Thào Chớ đụng vào thì mất thiêng.
– Tên quỷ ngục hình!
Thào Chớ ngạc nhiên hỏi:
– Sao thầy mời cả quỷ ngục hình về?
Thầy pháp giải thích:
– Tên này là đội trưởng của đội quỷ trông coi hình ngục, tức là cai ngục ở nhà giam Âm phủ, không cho những tội nhân thoát khỏi đó. Tôi cho mời về, phòng khi thân chủ có mệnh hệ gì thì chúng sẽ mở cửa ngục cứu linh hồn ra!
Thào Chớ cắt ngang:
– Thầy nói rõ cho nghe xem nào?
– Ví như có một người thân chủ ghét, cho uống rượu ngâm rễ cây ma ngón nhưng lại nói là ban cho rượu quý. Người kia chết xuống âm phủ. Quỷ sứ sẽ tống vào ngục và hỏi. “Mày làm gì để cho người ta ghét đến nỗi muốn lấy mạng mày?”. Nếu hồn kia trả lời rằng tao không hại nó, chỉ là nói cho nó bỏ bớt lòng tham đi, nên nó ghét tao. Nghe thế, quỷ động lòng sẽ thả hồn ra để đầu thai kiếp khác!
Thào Chớ nghe vậy thì khùng lên:
– Chưa gì thầy đã muốn tôi tùa là sao? Có cách nào để các thế lực khác không động được đến lông chân tôi không?
Thầy pháp hỏi lại:
– Ông phải nói rõ là thế lực nào để tôi còn mời âm binh làm cho đúng việc chứ?
Thào Chớ nói nhỏ:
– Tôi muốn bịt mắt, bịt tai bọn công an lại, cái bọn người trần mắt thịt ấy mới nguy hiểm!
Thầy pháp gật gù:
– Được thôi, được thôi!
Thầy lại lấy ra từ cái túi càn khôn nửa trắng nửa đen đeo bên mình mấy lá phù nữa và lại dùng bút viết chữ lên đó.
Thào chớ sốt ruột quá lại hỏi:
– Thầy mời ai vậy?
Thầy pháp giơ lá bùa lên giảng giải:
– Đây là hai vị thần cao quý. Vị thần ánh sáng và vị thần tiếng vang!
Thào Chớ thở ra phì phì, rồi thắc mắc:
– Ơ hay, để bịt mắt, bịt tai chúng mà lại dùng thần ánh sáng và thần tiếng vang thì chẳng phải mắt chúng càng nhìn rõ, và tai chúng nghe càng rõ chứ?
Thầy pháp lắc đầu:
– Không phải vậy. Ánh sáng chói lòa rọi thẳng vào mắt chúng sẽ khiến chúng không nhìn thấy gì, dù sự việc đang diễn ra. Còn thần tiếng vang, sẽ tạo ra những âm thanh như sấm sét khiến tai chúng ù đi, không nghe thấy những gì chúng ta nói, bàn bạc, tính toán. Những việc này chỉ các vị thần trên dương gian mới làm được, còn thần âm không làm được!
– Tại sao vậy?
– Vì nếu công an mà đột nhập vào đây lúc ban đêm thì âm tướng sẽ ra tay. Nhưng nếu vào ban ngày thì âm tướng không thể lộ diện!
Thào Chớ lại hỏi:
– Thế từ nãy tới giờ, tôi toàn thấy thầy mời âm tướng, không thấy mời âm binh. Toàn tướng với nhau cả không có quân thì lấy ai chiến đấu? Mà chi phí thế nào, nói luôn. Nếu kinh phí mà lớn hơn của tổ chức cấp cho tôi là không được!
Thầy pháp từ tốn giải thích:
– Chúng ta cứ mời được tướng thì có nghĩa là sẽ mời được binh. Vì tướng nào mà chả có binh đi theo hộ tống. Những vị tướng, vị thần ở xa thì chi phí đi lại tốn kém hơn ở gần. Còn tiền ăn uống, rượu chè, thuốc phiện thì chung một chế độ như nhau thôi mà. Vũ khí thì mỗi người một kiểu, chúng ta phải sắm và hóa đi, tức là phải trao vũ khí cho họ ngay từ khi họ đặt chân đến đây!
Thào Chớ gật gù và bảo thầy pháp cho tiến hành ngay việc mời các âm tướng về. Ngày tháng đã gấp gáp lắm rồi. Thào Chớ còn hỏi:
– Thế có cần mấy thằng “dương binh” của tôi ở Lùng Vài, Láo Tả và Mùa Sán không?
Thầy pháp gật đầu:
– Cần chứ, thằng nào trung thành thì dùng. Chủ yếu để chúng giết dê, giết lợn làm cỗ mời binh tướng và để cho ông sai vặt thôi. Ông đừng có lo. Ở xứ tôi, người đông như kiến, đất đai, núi rừng rộng bao la bát ngát mà âm binh còn quán xuyến được hết, huống hồ cái xứ Mường Thàng này, nhỏ như cái chảo thắng cố!
Thào Chớ lại hỏi:
– Tôi hỏi câu này nữa. Thế ông mang âm binh của xứ ông sang đây, chúng sao thuộc đường đi lối lại bên tôi mà hành động?
Thầy pháp bật cười ha hả:
– Ông đến hay. Tôi sang đây giúp ông làm việc lớn. Người dương liên kết với nhau thì người âm cũng thế. Cả tướng lẫn binh đều tinh túy của cả hai bên hết. Với lại, trong một số vụ việc, lính của tôi vẫn sang bên Mùa Sán này suốt, chúng thông thạo hết cả. Ông người trần mắt thịt không nhìn thấy đâu!
– Tôi nghe nói thằng Hạng A Lẩu có ba vạn âm binh đấy, tôi sợ quân của ông kéo sang đây lại xích mích rồi đánh nhau với quân của nó!
– Ba vạn ăn thua gì, tôi có cả ba mươi vạn. Cái đám âm binh của nó, từ khi chủ bỏ trốn, mồm không nuôi nổi, nuôi sao nổi quân, chúng bỏ hết rồi. Ông cứ làm thêm mấy mâm rượu thịt, tôi mua chuộc hết cái đám này. Cốt để chúng nó không phá bĩnh và ngứa mắt mình thôi!
Thào Chớ gật đầu và yên tâm hẳn. Phải thế chứ, thế mới xứng đáng đồng tiền bát gạo bỏ ra. Thào Chớ chi cả trăm đồng bạc cho cái vụ này đấy. Cũng là tiền của bề trên đài thọ cho thôi mà.
* * *
Lễ mời âm binh, âm tướng diễn ra long trọng từ đầu giờ Tuất. Máy được thả ra, ngồi ngơ ngác bên bếp lửa. Không biết thầy pháp đã làm gì mà Máy không cất lên tiếng nói. Cứ lặng lẽ nhìn xung quanh. Tất thảy đều xa lạ hết. Mà xa lạ cũng phải thôi vì lốt hổ, da gấu, sừng sơn dương và sừng trâu đều bị dỡ khỏi vách nhà xuống chất thành đống, lấy vải trắng phủ lên như liệm. Có như thế khách mới về nhà. Bài cúng dài dằng dặc, thầy pháp cúng bằng thứ ngôn ngữ của thầy mà Thào Chớ và đám thay chân chả hiểu gì cả. Vợ con lại càng không. Chục mâm cỗ đầy đủ thịt chín, thịt sống, gạo chín, gạo sống, muối, rượu, thuốc lào, thuốc phiện được bầy kín một dẫy hiên lớn, bày tràn cả ra sân. Thầy pháp đốt hương vừa nhảy múa, vừa khấn vái, vừa đốt từng lá phù. Thầy đốt một lá, là một vị âm tướng được mời về.
– Dạ mời quan khách ngự chỗ này ạ!
– Dạ mời quý vị dùng bữa tại chỗ này ạ!
Cứ như thế, như thế. Người mời, người sắp đặt chỗ ngơi nghỉ. Đến qua giờ Tý thì tiệc cúng mời tạm dừng lại. Gia chủ cùng khách khứa ăn uống say túy lúy, rượu được rót ra những cái bát, cái chén để không. Khách, tuy Thào Chớ không nhìn thấy mặt nhưng cảm thấy rất rõ là họ đã về đông đủ, để ủng hộ sự nghiệp của Thào Chớ.
Sau tiệc ăn uống là lúc thầy pháp trao vũ khí cho từng vị tướng, từng đội quân và chỉ rõ vị trí trấn giữ. Cứ như thế, việc cắt đặt đến gần sáng thì xong xuôi. Thào Chớ mệt lả cả người, lăn ra giường là ngáy như sấm không biết trời đất gì nữa. Tỉnh dậy lúc mặt trời đã xiên xiên trên ngọn trám nhà thằng Đái. Thầy pháp đã thay ra bộ cũ, mặc vào bộ quần áo mới xanh đỏ tím vàng trông rực rỡ còn hơn cả váy phụ nữ Mông Mùa Sán. Thầy pháp rỉ tai Thào Chớ thì thầm gì đó. Thào Chớ tỏ ra băn khoăn:
– Có thật như vậy không?
– Thật chứ!
Thào Chớ khoát tay:
– Vậy thì thầy cho tiến hành ngay!
Hình nộm thứ nhất được bê ra, to bằng thằng trẻ lên mười. Thào Chớ chỉ hình nộm mà nói:
– Thằng này to béo, đích thị là Tráng A Páo!
Nói rồi Thào Chớ giơ chân, đạp cho hình nộm mấy phát vào mặt. Thầy mang ra hình nộm thứ hai. Tào Chớ lấy làm ngạc nhiên:
– Giống quá. Thằng dong dỏng này đúng là thằng Vàng A Sử! Phải đóng đinh vào đầu chúng nó mới hả!
Sau một hồi tát, đấm đạp. Thào Chớ lệnh cho đệ tử trói chân tay hai hình nộm vào. Thầy pháp lôi dụng cụ ra từ chiếc túi càn khôn. Những cái kim lần lượt cắm vào đầu, tai, mắt, ngực của hai hình nộm bị trói chặt. Thầy pháp vừa làm vừa chắp tay niệm chú bằng thứ tiếng bản địa của người Mường Lác mà Thào Chớ nghe lõm bõm câu được câu chăng. Thào Chớ còn chưa tin tưởng vào mấy cây kim châm lắm nên chạy ra bếp, mang vào thêm hai con dao nhọn và cắm vào cổ mỗi hình nộm một nhát dao. Thào Chớ bảo:
– Kim châm thì ăn thua gì với mấy thằng mình đồng da sắt, phải dao cơ!
Rồi vẫn chưa yên tâm lắm. Thào Chớ còn tự tay mang ra một bình rượu ngâm rễ loài cây gì đó có màu vàng sậm. Thào Chớ vạch miệng các hình nộm và nghiêng bình dốc vào. Sau đó thì để cái bình sang bên cạnh. Thào Chớ hỉ hả:
– Rượu độc đấy, ngâm rễ cây ma ngón. Vài giọt đã chết, huống hồ từng này. Cho chúng mày chết không kịp ngáp!
Quay sang thầy Pháp, Thào Chớ mãn nguyện:
– Giờ thì chúng nó hết đường ngọ ngoạy rồi phải không ạ. Ngày trước, cái thằng Lẩu khoe thế, tôi không tin. Nếu biết sớm. Tôi đã cho chúng nó tùa lâu rồi. Cái lũ phá đám!
Máy từ từ đứng dậy, đi ra khỏi bếp, đến bên một mâm cỗ nguội ngắt, bốc một nắm gạo sống trong cái bát bỏ vào mồm nhai trệu trạo. Máy sờ tay vào trong miệng, hai chiếc răng vàng bị Thào Chớ nhổ từ đêm hôm trước, giờ vẫn rỉ máu. Cảm giác đau đớn, nhục nhã đến tận cùng khiến Máy nghĩ đến bình rượu lá ngón mà Thào Chớ sai cô làm mấy hôm trước. Vì thế, nhân lúc cả nhà xúm xít vào xem thầy pháp hành hình hai hình nộm thì Máy trộm lấy bình rượu nhỏ mang ra trái nhà. Còn chưa vặn được cái nắp nó ra thì Máy nhìn thấy May. May đang dò dẫm từng bước đi lên nhà chị gái. Đôi mắt sưng húp, cái mặt bầm tím. Mấy ngày không nhìn thấy nhau, hai người đàn bà khốn khổ ôm chầm lấy nhau mà khóc. Máy cho May xem hai cái cổ chân hằn vết dây trói. May cũng cho chị gái xem những thương tích trên người. Họ truyền nhau cái bình rượu rễ cây mà Thào Chớ cho hai hình nộm uống còn đến độ chén đầy mà không thể nào mở được nắp. Vì cái nút bình thủy tinh nút quá chặt mà cả hai người đều đau tay không mở được. Máy nghĩ ra cách kê cái cổ bình lên rễ cây để May lấy đá đập lên. Cái cổ bình vỡ lìa. Máy uống trước. Uống để kết thúc cái kiếp sống nhục nhã. Đến những đứa con đứt ruột đẻ ra cũng quay lại bạc đãi mình. May thoáng nghĩ đến bầy con thơ, nhưng không đành để chị gái chết một mình, và cái hận thằng Lẩu vũ phu, ác độc cũng dâng lên tận cổ. May cũng uống. Uống hết chỗ còn lại.
May và Máy đang vật lộn dưới đất thì đứa con rể có việc đi ra, nhìn thấy cảnh ấy thất kinh, bèn hô hoán mọi người. Thầy pháp lụng thụng khăn áo chạy ra. Nhìn thấy cái bình vỡ là biết ngay, bèn sai mọi người chạy đi lấy nước sạch cho thầy rồi đứng ra xa để thầy làm phép đuổi ma ngón cứu người. Thầy pháp múa tay ba cái trước mặt Máy rồi thọc tay vào bụng cô. Máy cong người nôn ra máu và rượu. Thầy cũng làm vậy đối với May. Sau đó thì đổ nước sạch vào mồm, rồi vần nghiêng cho nước chảy ra. Sau đó, thầy pháp cho khiêng hai người vào nhà, tiếp tục chữa trị bằng thuốc và bùa chú của thầy. Tiếng thầy hô âm binh trừ tà vang cả một vùng. Lạ thay, hai cái người đàn bà ấy không chết. Chỉ nằm mê man, bất tỉnh.
Trong giấc mơ đẹp, Máy thấy Thào Chớ làm ma cho vợ rất chu đáo với bộ mặt thương tiếc vô hạn. Máy được mặc bộ váy áo mới nhất, đeo bộ vòng bạc to nhất. Cũng mời Dở Mủ về làm lễ dẫn đường, gọi hồn về với tổ tiên. Máy cũng được nỉnh đăng (ngựa gỗ) để đi chặng đường xa nhất cuộc đời. Ngựa là một tấm ván bằng gỗ quý bào nhẵn cả hai mặt được treo hai đầu lên bằng hai sợi thừng lớn và chắc ngay giữa nhà. Máy nằm ngửa trên đó, miệng ngậm đồng bạc trắng, hai tay cầm hai cuộn lanh. Dưới đầu là một cái vỏ gối dệt bằng sợi lanh. Con trai cả cúng mẹ một con trâu. Con trai thứ một con ngựa. Hai con rể mỗi đứa cúng mẹ vợ hai con dê và một đàn gà. Bốn mươi tám tuổi, Máy lần thứ hai đi ở riêng với đầy đủ những thứ mà mà bao nhiêu người đàn bà nghèo Mùa Sán lúc sống còn phải ao ước.
Rồi Máy còn mơ thấy May được nhà chồng làm ma qua quýt. Cũng có thầy, nhưng là thầy bản địa, cũng được cưỡi “nỉnh đăng” (ngựa gỗ) nhưng là ván xấu được dỡ ra từ tường nhà và phần phủ lên là đan bằng nứa. Ngoài ra, các con của May còn nhỏ, không có trâu, có dê, có lợn cúng mẹ để làm của đi theo. Máy còn đang vào đám tưng bừng thì May đã được người nhà vội vàng mang đi chôn, chỉ sau khi anh trai chồng cô bắn chín phát súng kíp lên trời có một ngày, mà lẽ ra phải là mấy ngày làm đám. Vào lúc sáu giờ tối. Khi mặt trời đỏ như cục máu ngồi chễm trệ trên đỉnh núi Plâu. Có người bảo là nắng quái. Đoàn người đưa May đi chôn có độ chục người. May được bọc trong một tấm chiếu trúc, buộc vào đòn khiêng, bốn thanh niên lực lưỡng thay nhau khiêng. Thầy mo đi trước vung dao mở đường cho hồn vía người chết theo sau. Đoàn người rồng rắn đi qua ba nương dứa, một nương thuốc lào và hai vạt ngô thì mới đến chỗ chôn. Những người vác cuốc, vác thuổng đi sau, sau khi thầy mo gieo quẻ âm dương để xin đất và chọn đất thì họ mới tiến hành đào huyệt theo sự chỉ dẫn của thầy mo. Người soi đèn pin, kẻ đào, kẻ moi đất, người đi khuân đá về. Cái hố chôn May rộng chừng bảy chục phân, nhưng rất nông và dài hai mét. Sau khi đặt May xuống đó cùng với cái bát, đôi đũa, ít muối, ít gạo trắng, người ta lấp đất lên. Đá được kè cao lên làm thành phần nấm ở trên khá lớn để tránh thú rừng đào bới và tha xác đi. Cụm mộ những người chết vì lá ngón ở Mùa Sán nhìn xa giống như một bầy trâu đá nằm nghỉ ngơi sau khi nhọc nhằn cày xong nương nhà trời. Mộ của May nằm ngoài cùng như con trâu lạc đàn. Thầy cúng trên đường về nhà lại vung dao xua đuổi sợ cái hồn lại quay về phá bĩnh, gây họa cho chồng con, họ hàng.
Máy và May tỉnh dậy, ngơ ngác nhìn quanh. Thấy thầy pháp đang rầm rầm khấn vái gì đó. Thào Chớ mừng rỡ, nắm tay thầy pháp giật giật, quên hết cả lễ nghĩa.
– Mày giỏi quá, không phải bác sỹ mà cứu được hai chị em nó. Lúc khác thì tao mặc kệ, cho chết. Nhưng lúc này, nó mà chết là hỏng hết việc lớn!
Tên thầy pháp được thể huênh hoang:
– Tao muốn nó sống thì chỉ việc lôi cổ con ma trong người nó ra, sai âm binh nện cho một trận, đuổi cổ về núi. Còn muốn đứa nào chết, đứa ấy được chết ngay!
Thào Chớ cười tít cả mắt.