ÂM BINH VÀ LÁ NGÓN: CHƯƠNG 2

Không biết từ bao giờ cái bãi đất lổm nhổm đá nhưng địa hình khá bằng phẳng nằm giữa ba thôn Lùng Vài, Sín Chải và Mùa Sán lại là nơi họp chợ Ngải Thầu. Ngày mưa thì chợ họp muộn một tý và hàng ít hơn một tý, chứ ngày nắng, mới độ sáu giờ sáng, sương còn đang rơi lốp bốp xuống mặt lá, là chợ đã đông người rồi.

Đứa bán gà trói chân những con gà lại rồi lấy dây buộc vào một cái gốc cây hay một hòn đá để chúng không thể giãy giụa. Thi thoảng lại đưa tay sờ cái diều gà xem đã ngót chưa để móc túi áo lấy ra nắm ngô hạt tiếp tế cho gà. Có cả một cái ống nứa đựng nước cho gà uống nữa. Sợ nó đói, nó khát và nó chết, vì ở đây bán quạ thôi, không cân. Cứ thấy có khách đến xem là thằng bán gà lại cù tay vào nách con gà để nó rúc lên mấy tiếng chứng minh rằng gà khỏe chứ không phải gà dù hay bệnh tật gì. Gà ở Ngải Thầu phần lớn là gà chân đen, mỏ đen, lác đác có những con đen toàn thân từ da đến lông đến móng vuốt.

Bên cạnh hàng gà qué ngan vịt là hàng lợn, chủ yếu là lợn giống. Những con lợn đen độ chục cân bị trói chân nằm nghiêng dưới đất, những con lợn ỉ mõm ngắn, da loang lổ, bụng tròn vo nằm trong rọ.

Qua hàng lợn con là đến hàng chó. Cả con lẫn mẹ đầy đủ cả.

Rộng nhất chợ Ngải Thầu này là khu đất bán ngựa, trâu, bò dê…Ai có những con vật muốn bán thì đều đem đến đây, đóng cọc, buộc chúng lại. Người đến hàng thắng cố ăn và uống rượu, con vật thì đứng nằm vạ vật chờ khách đến trả giá. Vùng này cỏ ít, trâu ngựa gầy lắm, lại xa xôi nên không có thương lái ở xa đến, chỉ quanh quẩn bán cho nhau làm giống và cày bừa, mang vác thôi.

Khu đất cũng rộng không kém chỗ buộc trâu ngựa là khu đất bán chim. Những con chim quý như họa my, sáo, vẹt, yểng thì có lồng đẹp, còn bọn nhì nhằng thì lồng xấu, tạm bợ. Có những con chim mẹ rất xấu, đen nhẻm, lại ấp u thêm cả đàn con chưa biết bay đang há hoác miệng đòi ăn nữa. Thế cũng đem ra chợ bán. Có ai mua hay không thì đến cái đứa bán cũng chẳng biết. Họa may thôi mà. Cái đất này, đài ít nên nhà nào cũng nuôi vài con chim hót cho vui cửa vui nhà. Thành ra, cứ đến ngày phiên, chim được mang đến chợ để giao lưu, đổi chác và mua bán. Những người buôn chim chuyên nghiệp có cái còi bằng thép trong tay, thi thoảng lại đưa lên mồm nhại tiếng chim để khiêu khích những con họa my đực cất tiếng hót hưởng ứng, phụ họa. Nhiều gã còn mang cả đài cát sét thu âm giọng hót của các loài chim rồi mang đến chợ mở ra cho không khí thêm náo nhiệt. Vì thế, giữa tiếng nhạc Mông trầm trầm, buồn buồn tù tí tù lại lảnh lót vang lên một tràng dài tiếng họa my lĩnh xướng.

Khu bán các con vật thì luôn tấp nập người qua lại để xem xét, đa phần là đàn ông, thanh niên, trẻ trai.

Đàn bà con gái thì sau khi lượn một vòng qua hàng rau, hàng đậu, hàng quà cáp là đến hàng váy áo. Cứ là đỏ rực một góc chợ, phần lớn là người bên Kiều A mang hàng sang bán. Hàng bên ta lép vế với dăm xâu gừng, túi ớt, ít khoai lang, chục cân gạo nếp nương, vài ba cân nếp cẩm, vài ống đỗ tương, đùm rau má, rau ngải…

Ấy thế, ai cũng biết ớt Mường Thàng là đặc sản đấy, cay quyết liệt, cay tứa nước mắt nước mũi. Thằng bé bán ớt trong lúc chờ khách mua thì bẻ đôi quả ớt, bóp hạt ra đất ngồi đếm như quan xưa ngồi đếm tiền vàng, tiền bạc. Gạo, đậu của Mường Thàng cũng thế, đặc sản hết…Có ít bán ít, có nhiều bán nhiều. Ba quả trứng gà cũng đem ra chợ, vài quả ớt, vài dúm kiệu hoặc nắm lá hẹ cũng đem ra chợ. Có ông cụ người Mông, từ bản xa về bằng ngựa, gần trưa mới tới nơi, bùm rau đắng héo quắt, đành ra hàng thịt xin bát tiết vào khu ăn uống vặt rau đắng bỏ vào nấu làm canh ăn với cơm nắm…

Cứ như thế, đủ thứ thượng vàng hạ cám, gì cũng đem ra chợ phiên. Mỗi tuần một phiên, chợ Ngải Thầu họp vào sáng chủ nhật. Chợ Ngải Thầu là phiên chợ vùng biên náo nhiệt bởi kẻ bán người mua đến từ bên kia biên giới rất đông. Người Ngải Thầu bị hút hồn bởi những thứ hàng hóa vừa rẻ vừa tiện dụng của nước bạn. Họ đi chợ đôi khi chả có gì để bán cả nhưng vẫn hồ hởi đi. Ngắm hàng và trầm trồ khen là cái thú vui của con người ta mà. Rồi cũng hẹn, chợ sau mua nhá. Rồi thì để gặp lại bạn bè, anh em ở xa về. Thế thôi.

Người ta vẫn nhớ, sáng hôm ấy Mỷ xuống chợ Ngải Thầu dắt theo ngựa và mang bán một con gà mái lấy tiền mua mỡ và dầu thắp. Mỷ còn đi xem xem váy áo với một cô gái Dao còn rất trẻ. Họ nói chuyện thân thiết như là chị em gái. Mỷ rất đẹp, hai lăm tuổi, ba con và cuộc sống lam lũ không thể cướp đi những nét đẹp của bông hoa xứ Mường Thàng. Ra chợ, bộ váy của Mỷ lúc nào cũng rực rỡ và đẹp nhất với những hoa văn độc đáo mà cô khéo léo phô diễn tài khâu vá. Dẫu biết Mỷ đẹp, nhưng không đứa đàn ông, con trai nào đến chợ Ngải Thầu dám khen hay trêu Mỷ một câu. Đứa nào gan cóc tía thì mới dám trêu vợ Lý Chinh.

Phiên ấy Chinh không đi chợ cùng vợ, mà ở nhà tiếp khách bên Kiều A sang chơi. Tối không thấy vợ về, đêm cũng không thấy vợ về. Sáng hôm sau Chinh tìm được con ngựa vẩn vơ trong bãi tam giác mạch đầu bản. Lý Chinh đi báo trưởng bản Thào Chớ. Thào Chớ cho người đi tìm mấy ngày cũng không thấy tung tích gì. Ở chợ người ta bảo đã thấy Mỷ đứng xem bọn đàn ông “chém thịt” cơ mà. Sau đó Mỷ có mua mỡ lợn và dầu thắp rồi lên ngựa về. Người ta trách, sao Chinh không về chợ cùng Mỷ? Vì trước giờ Chinh và Mỷ đi đâu cũng có đôi, kể cả khi lên nương, cả lúc xuống chợ.
Lý Chinh mà xuống chợ Ngải Thầu, thì khối kẻ mất thịt với hắn. Để lôi kéo khách về hàng thịt của mình, những gã bán thịt thường dùng chiêu thi tài “chém thịt” rất khôn ngoan. Miếng thịt lợn đen, đồng bào dân tộc nuôi mấy năm vốn rất dầy. Dầy cả gang tay. Nếu ai chém một nhát đứt một miếng thịt thì được thưởng một cân thịt đùi. Nếu chém hai nhát đứt một miếng thịt thì được nửa cân thịt mỡ. Nếu chém ba nhát mới đứt thì được hai lạng thịt ba chỉ. Nếu sau nhát thứ ba mà không đứt thì anh ta phải mua ít nhất một cân thịt, loại nào cũng được. Thế nên khi người ta đến chợ Ngải Thầu thì việc mua thịt, mua mỡ là của đàn ông, cũng như việc mua thuốc, mua vải, mua tơ chỉ là của đàn bà. Anh nào cũng vui vẻ thử tài “chém thịt” trước khi mua thịt. Thi thoảng, có anh tài ba còn được lấy thịt mà không phải trả tiền. Thường, số thịt ấy người thắng cuộc đem vào quán rượu, nhờ chủ quán luộc chín rồi mời mọi người uống rượu.

Phiên vừa rồi, Lý Chinh đi chợ với hi vọng nghe được tin gì về vợ. Lý Chinh tiến đến thẳng đến một hàng thịt vắng người. Người chợ đổ xô về chỗ Lý Chinh. Họ nghĩ Chinh mất vợ, lo nhiều, sẽ thua cuộc thôi. Trước, chẳng bao giờ Chinh chém đến nhát thứ ba cả. Chinh cầm lấy con dao của hàng thịt, liếc qua lại vài cái vào miếng da ngựa buộc làm quai thồ.

Hắn giơ dao lên, vằn mắt nhìn tảng thịt như nhìn đối thủ, lia ngang một phát. Lưỡi dao đi qua nửa quả mông to sụ. Tất cả phần nạc trên quả mông được nhấc ra. Chủ quán thấy vậy bảo:

– Chém thẳng chứ không chém ngang!

Chinh cười nửa miệng:

– Tôi cho ông chém ngang, với quả mông bên này. Cho ông chém ba nhát!

Chủ hàng thịt chém nhát thứ nhất, dao nảy ra, nhát thứ hai sâu được vài phân, nhát thứ ba lại không dính vào nhát cũ. Thế là ấm ức xẻo cho Chinh cân thịt ngon nhất.

Hôm ấy về chợ, Chinh không mang thịt đi luộc, mời mọi người uống rượu như mọi khi nữa. Hắn loanh quanh quan sát một lúc rồi lên ngựa về. Chinh về một lúc thì một tay công an viên người Lùng Vài chạy đến chỗ Páo thở hổn hển.

– Báo cáo, vừa thấy một túi rắn của người Dìn Chin mang sang chợ, nó để ngoài bãi buộc trâu, chắc là đợi người đến lấy.

Páo đứng dậy, cái ông già chuyên bán kèn thấy thế nói với theo. – Dạo này chúng nó bán nhiều đấy!

Páo hối hả theo người thanh niên Nùng đi về phía bãi buộc trâu. Một người đàn ông mặt đỏ phừng phừng đi ngược chiều cố tình đập cả quả vai vào ngực Páo và nói:

– Cán bộ đi tìm vợ cho thằng Chinh à?

Nhận ra Lẩu, Páo không nói gì mà cứ thế bước tiếp.

Người bán rắn là một lão già người Mông trạc ngoài bảy mươi, có đôi mắt ti hí và cái mũi tẹt xanh xám, mồm lão phả ra nồng nặc hơi rượu ngô và mùi thắng cố ngựa. Lão dương dương tự đắc đứng dạng chân che lấy cái bao tải đựng những sinh vật sống đang lục đục trong đó, tay chống nạnh. Páo dõng dạc.

– Yêu cầu các anh dừng ngay hoạt động mua bán những mặt hàng nhà nước đã cấm!

Lão già cười nhạt:

– Đứa nào có giỏi thì thu rắn của tao. Tự tao bắt được tao bán, liên quan gì đến nhà nước?
Sau câu nói của gã thì hàng chục thanh niên ùa đến, có thằng còn nhăm nhăm con dao dựa trong tay bao quanh lão già như một hàng rào bảo vệ chắc chắn. Thấy thế Páo bèn bảo người công an viên về xã gọi thêm người. Tay kia vừa chạy đi thì đám người đến bu quanh Páo mỗi lúc một đông. Một thằng hô to.

– Đánh, phải đánh thôi, thằng này năm ngoái thu súng của tao! Đám đông bị kích động, trở nên nhốn nháo. Páo nhìn quanh, qua trang phục thì biết toàn người Mông, Dao và Giáy vùng khác. Lác đác còn là những lái buôn chuyên mua rắn người Kiều A. Người Mùa Sán, nhiều thanh niên thấy Páo lâm vào tình huống khó xử ấy thì ngoảnh mặt, quay lưng. Có đứa còn nói. Đáng đời, ai bảo cứ đi mà cấm đoán dân. Đám đông cứ vây kín Páo nhưng không thằng nào dám nhảy vào vì thấy Páo to con, chắc khỏe, đặc biệt là đôi mắt một mí lì lợm và hai bàn tay nắm chặt nổi gân. Thấy tình hình trở nên căng thẳng, Páo dịu giọng:

– Tôi nhắc nhở bà con rất nhiều lần rồi, đề nghị bà con tôn trọng pháp luật nhà nước, có như vậy quyền lợi của bà con mới được đảm bảo. Đề nghị bà con giải tán. Dù có thế nào thì tôi cũng phải lập biên bản, xử lý những người cố tình chống đối.

Nói xong thì Páo ngang nhiên rẽ đám người ra, đi về phía ông già người Mông và cái bao tải rắn. Đến lúc này, Páo mới thấy những con ngựa, con dê ngoài bãi buộc lồng lên, hí vang. Thì ra trong lúc mọi người bao vây quanh Páo, lão già đã thừa cơ cởi miệng túi, thả cái đám rắn ra. Bọn rắn được tự do, chúng ngay lập tức lao qua ruộng và phóng thẳng vào những hốc đá, những bụi rậm xung quanh khu chợ.

Đứng trên một mô đá, chứng kiến cảnh ấy, Lẩu mỉm cười, bụng nghĩ thầm, người Mông ta, sao lại có những người dốt như thằng Páo nhỉ? Chống đối lại đồng bào, dân tộc mình thì được gì. Để xem, tới đây, Páo có dám dẫn dân quân đến nhà mà cấm cản không? Lẩu sắp có việc rồi đấy. Lẩu có thói quen soi mói người khác. Cái nghề cúng mà lại. Lẩu cười cợt Páo một lúc rồi đi sang hàng răng vàng. Cái gã “nha sỹ” người Tàu độ ba chục tuổi, tay nhăm nhăm cầm cái kìm bằng kim loại có cái mũi nhọn hoắt đang đon đả chào mời. Thấy Lẩu, như là chỗ thân tình quen biết. Hắn chỉ vào cái biển viết bằng tiếng Việt nguệch ngoạc. “Mua răng vàng cũ” và nói ngọng nghịu:

– Ủa khu thí đứ nào bắng cả, thí nói lung mà” (Tôi không thấy đứa nào bán cả, thấy nói luôn mà).

Lẩu liếc qua cái quán sơ sài của hắn mà rùng mình. Điện thì chạy bằng máy phát mini. Dung cụ thì bày tơ hơ trên bàn đầy bụi bặm. Đang soi rọi hoặc chà răng mà nó trục trặc điện đóm thì sao nhỉ? Lẩu giơ một ngón tay lên, gia hiệu cho ông chủ tiệm răng vàng lưu động rằng phải bình tĩnh và kiên trì chờ đợi, rồi khắc thấy.

Tang chứng bị sổng ngay trước mắt khiến Páo ức lắm. Lão già bán rắn khệnh khạng đi vào hàng thắng cố. Lão còn khoát tay mời thêm mấy thằng thanh niên đã có công che chắn cho lão lúc trước. Đội dân quân của xã và mấy tay công an viên đến nơi thì chợ đã tàn rồi. Quán nào quán ấy ngổn ngang chai lọ, bát đũa và đó đây những tiếng ngáy rền rĩ của khách vang lên ngay dưới nền đất. Thằng Lẩu đi đến, vỗ vai Páo, giọng lè nhè đẫm hơi men:

– Công an có một tí người, mà cái chợ to từng này, cai quản thế nào được. Về nhà ngủ với vợ cho sướng thôi cán bộ ơi!

Tối ấy, Thào Chớ cắp đèn pin vào nách, mò mẫm sang nhà Páo. Thào Chớ có thói quen ấy. Đèn chỉ để phòng khi nào đường mưa gió quá thôi, chứ tạnh ráo thế này, mắt hắn tinh lắm. Páo với vợ đang ngồi lửa. Thào Chớ được cái ghế mây từ tay Páo thì cũng ngồi xuống. Giọng Thào Chớ ngậm ngùi.

– Sắp xong cái năm rồi. Chú mày lỏng tay một tí cho bà con kiếm bát cơm mà ăn chứ. Bắt bớ nhiều, bụng người sinh oán, chú mày cũng có được gì đâu. Làm người cán bộ, đừng có tối mắt vì thành tích.

Thấy Páo im lặng, Thào Chớ được đà:

– Chả giấu gì chú mày, tao đây cũng thế, khách khứa triền miên, tiền đâu ra, rượu thịt đâu ra, thi thoảng cũng phải đá ngang làm vài con rắn con dúi mà kiếm thêm chứ. Ở xứ họ thì quý, chứ bên ta, chỉ có đập chết ném xuống suối, ăn nó, tốn thêm rượu chứ báu gì. Có đi có lại cả thôi. Nếu chú mày đồng ý cho bọn nó mua bán, Chớ này đảm bảo bắt chúng nó phải góp vào, nộp cho chú mày theo tháng, hai triệu là ít, đầy đủ, không thiếu một xu. Chưa kể, nếu chú mày thích, muốn chung tay, chung sức, thì còn nhiều hơn nữa. Còn việc chúng nó mang về bên kia thế nào thì mặc kệ chúng nó.

Cán bộ Sử, cũng là con người bằng xương, bằng thịt, cũng biết tiêu tiền như chú mày. Nó giúp tao mấy lần, tao chưa lần nào để nó thiệt cả.

Vợ Páo thấy chồng im lặng thì khẽ rê bàn chân, đá nhẹ vào chân chồng. Nói đến mấy triệu bạc một tháng, người đàn bà thấy bứt rứt như kiến bò trong xương, trong thịt. Trưởng bản nói quá phải, người Mông thì phải thương nhau, mong nhau khấm khá chứ. Chợ là để mua để bán. Cô không thích cái cảnh chồng cô cùng mấy tay công an viên, phiên nào cũng lượn vè vè từ hàng thuốc bắc sang hàng gia cầm, gia súc. Thấy gì lạ cũng ngó, thấy chỗ nào đông cũng nhìn. Rồi nghi ngờ chỗ nào là kiểm tra ngay chỗ ấy. Làm thế, có được gì đâu? Cái người ăn lương nhiều thì ngồi ủy ban, chồng cô như con quay ấy, cứ tít mù việc nọ việc kia. Thào Chớ nói thêm vài câu nữa thì về. Vợ Páo tiễn khách ra sân.

– Úi cái đèn của bác sáng quá!

Thào Chớ rên rỉ:

– Đấy, tối tăm thế, nhưng nghĩ đến cô chú lại lặn lội sang. Thôi, hai người cứ bàn bạc cho kĩ rồi trả lời tôi sau cũng được.

Vợ Páo ngó đăm đăm vào mặt chồng. Những lưỡi lửa vàng liếm vào khuôn mặt khá bình thản của Páo. Páo giục vợ.

– Đi ngủ trước đi!

Vợ Páo miễn cưỡng đứng dậy:

– Thế trưởng bản nói thế có đúng không?

– Đúng gì mà đúng. Cô đừng có nói năng linh tinh.

Vợ Páo lại ngồi xuống. Không nói nữa, mà sụt sịt. Páo liếc ngang, đã thấy hai dòng nước mắt tràn xuống hai gò má. So với những đứa đàn bà trong vùng, vợ Páo khổ hơn cả. Nhà chồng đông con, Páo là con trưởng. Chẳng bao giờ có đồng tiền nào tiêu riêng bao giờ. Vợ người ta đi chợ, còn dám vào hàng bún, hàng phở làm một bát cho biết mùi chợ phiên.

Đằng này, vợ Páo, tiền ấy, cô tính đến tảng đậu to, mua về dầm ra, làm canh cho cả chục con người ăn vừa đủ. Cả năm, cả tháng, chả từng biết bỏ vào mồm một cái kẹo, cái bánh. Nhường nhịn là cái đức, cái tính, và còn là cái hoàn cảnh. Rồi thành quen. Mười mấy năm lấy chồng, làm dâu, chưa một lần biết đặt chân ra tỉnh, thành phố. Dù nghe người ta nói, cũng độ gần sáu chục cây số thôi mà. Chỉ cần buổi sáng đi ngựa ra phố huyện, gửi ngựa rồi bắt ô tô đi hai tiếng là tới thành phố. Đi thì phải có tiền chứ. Bán cái gì ra tiền đây. Mỗi tháng, tiền phụ cấp của Páo chỉ đủ mua mỡ, mua muối, mua dầu thắp và bột giặt. Làm gì có dư ra. Bây giờ, có cơ hội kiếm tiền nhiều, mà không phải vất vả gì cả, thì lại không nhận lấy. Người khác, nếu im lặng là bằng lòng. Còn Páo, im lặng là bực mình, là điên tiết, là phản đối, nhưng không nói ra mà thôi.

Vợ Páo khóc, không phải vì hi vọng tí nước mắt sẽ lay chuyển chồng, mà khóc vì buồn. Páo để vợ khóc thêm lúc nữa cho bõ rồi mới nói:

– Mình tưởng ăn tiền của Thào Chớ mà dễ à? Thế nhỡ nó không chỉ buôn con rắn, con rết, mà còn buôn những thứ nguy hiểm hơn thì thế nào? Tôi cũng phải làm ngơ ư? Với người công an, không tố giác tội phạm có nghĩa là phạm pháp. Và nếu ăn tiền của họ, mình thêm tội đồng lõa nữa. Tôi mà đi tù, mình ở nhà có cáng đáng được hết mọi việc không? Tôi đi tù thì con cái chúng ta, bố mẹ, anh em, họ hàng ta có ngẩng mặt lên được không?

Vợ Páo nín khóc. Lấy việc đi tù ra mà dọa thì đến cái đứa trẻ con thò lò mũi xanh chưa biết pháp luật là gì còn sợ, huống hồ người đàn bà ba mấy như vợ Páo. Vợ Páo lấy tay áo lau nước mắt rồi hỏi:

– Sao mình không nói để nó biết, nó khỏi phải đợi?

Páo không nói gì cả. Không phải vì anh không muốn nói, mà có nói thì vợ Páo cũng không thể hiểu nổi. Con người Thào Chớ không dễ gì đoán định cả. Vài cái việc buôn bán cỏn con không thể khiến Chớ có cuộc sống khá giả và tạo được vây cánh, quyền lực như thế. Páo biết, nếu mua chuộc không được, Thào Chớ sẽ tiến tới dọa nạt, gây sức ép, làm hại.

Vì thế, im lặng là tốt nhất. Để Thào Chớ nghĩ rằng Páo đang cân nhắc, tính toán và xao động trước miếng mồi béo mà hắn vừa thả ra. Tạm thời thế đã. Chỉ băn khoăn những lời Chớ nói về Sử là thế nào thôi. Có thật thế không? Sử có thể nào lại nghe theo sự sắp đặt của Thào Chớ? Hay đây chỉ là cái cách để Chớ khiến hai người nghi ngờ lẫn nhau?

Vợ Páo đã lên giường ngủ. Mình Páo thức với căn bếp rộng và những thứ đồ đạc rẻ tiền, đã cũ. Nhu cầu để sắm sửa, làm mới, ai chả có. Nhưng thế này cũng là ổn rồi, so với nhiều nhà chạy ăn từng bữa và nợ nần chồng chất, lưu cữu vì cúng cấp, ốm đau thì nhà Páo còn khá hơn nhiều. Càng về cuối năm, chợ Ngải Thầu càng xảy ra nhiều vụ việc phức tạp, rắc rối. Sử đã giao cho Páo và các công an viên luân phiên tuần tra, bảo vệ nhưng người thì ít mà việc thì nhiều, không ôm đồm hết được. Ở ủy ban, Sử cũng bù đầu với kiện cáo, tranh chấp và đánh đấm nhau.

Kể từ khi sát nhập Sư Tủng về Ngải Thầu thì Ngải Thầu là xã với diện tích rộng nhất gồm hai bốn thôn bản, trong đó có ba bản giáp biên. Một xã đứng đầu toàn huyện về tỉ lệ đói nghèo, lạc hậu, mù chữ, tảo hôn, mê tín dị đoan, ma túy, trộm cắp, buôn lậu. Một xã đứng cuối danh sách đầu tư, hỗ trợ vì đường xá chưa đâu vào đâu, mới làm tới ủy ban thì bỏ dở nửa chừng chờ kinh phí. Điện cũng bỏ rơi Mùa Sán lại vì chi phí đưa điện lên vùng núi đá cheo leo này rất lớn, phải duyệt đi duyệt lại. Trường tiểu học thì khó có thể hình thành ở một số bản vì dân thưa, ở rải rác. Nhưng lúc nào Páo cũng có niềm tin rằng Mùa Sán sẽ thay da đổi thịt, đời sống của bà con sẽ khấm khá hơn.

Bố Páo thường nói. Thời của ông, đêm đốt lửa thay dầu thắp, hàng tuần ăn nhạt vì không có muối, và chẳng được ai cho cái gì cả, lại còn chiến tranh, còn nạn phỉ nhiễu loạn. Giờ này, cuộc sống bình yên, nhà nước hỗ trợ rất nhiều thứ mà kinh tế không khá hơn được là do con người quá kém cỏi và ỉ lại. Nói về chuyện kiểm tra ở chợ. Bố Páo bảo.

– Chợ vùng cao quý nhất cái tình, chứ không phải tiền.

Thì ra chợ để gặp gỡ, thăm hỏi, trò chuyện cơ mà, mua bán, đổi chác là phụ. Vùng cao, chợ nào chả là chợ tình, riêng gì Ngải Thầu đâu. Páo quen vợ, yêu rồi cưới vợ cũng từ chợ phiên Ngải Thầu này đấy. Vợ Páo người tận bên kia dòng Nậm Miên, xứ sở của hoa đào, hoa mận, theo mẹ đi chợ lên đây nên đã quen Páo mà. Nhiều đàn ông ở Mùa Sán này gặp rồi cưới được vợ nhờ có phiên chợ. Nên chợ phiên, trong tâm thức mỗi người là thiêng liêng lắm. Làm gì cũng phải đắn đo, nghĩ trước nghĩ sau thật kĩ.