Trong những buổi chiều mùa đông, khi gió từ những khu tập thể cũ khe khẽ thổi qua ô cửa, tôi hình dung một người đàn bà lặng lẽ ngồi trước bàn viết. Ánh đèn chiếu xuống trang giấy như một vệt sáng nhỏ nhưng bền bỉ, và trong vệt sáng ấy, những phận người đã đi cùng chị suốt hơn ba mươi năm làm nghề bắt đầu cựa mình, trở dậy. Tôi hình dung chị, Đoàn Thị Phương Nhung, như một người kể chuyện đến từ một miền lặng, nơi những nỗi đau và niềm thương được giấu trong đáy giếng sâu của ký ức, chỉ hé mở khi ai đó thực sự muốn lắng nghe.
Ngày chị cầm bút viết “Mùa hoa dâu da xoan” cho Báo Người Hà Nội, có lẽ chị chưa biết rằng mình đang đặt dấu lặng đầu tiên cho một hành trình sẽ dài như những con đường lực lượng Công an nhân dân vẫn âm thầm đi qua mỗi ngày. Rồi “Mã số M65”, “Cuối mùa hoa gạo”, “Nhãn”, “Khách sạn Thiên Đường”, “Chuyện của Thản”, “Ngày nỗi nhớ ra đời”, “Một người và một ngày”… Những truyện ngắn nhỏ bé như những chiếc lá, nhưng đằng sau là cơn gió rộng của một đời sống mà nếu không có một người đàn bà viết như chị, có lẽ sẽ mãi trôi đi không ai biết đến.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều từng nói một câu mà khi nhắc đến chị, ta hiểu ngay lập tức: “Mỗi nhà văn xuất hiện, chúng ta lại có thêm một người kể chuyện về những số phận trên thế gian này”. Và chị xuất hiện như một người kể chuyện thầm thì, không ồn ào, không đòi hỏi, như thể chỉ cần được kể là đã thấy nhẹ lòng.
Năm 2001, với tấm bằng loại giỏi, chị về công tác tại Điện ảnh Công an nhân dân. Những ngày đầu ấy, tôi hình dung chị bước vào môi trường mới như người bước vào căn nhà kín cửa: ánh sáng quá nhiều, bóng tối cũng quá nhiều. Và chính trong khoảng tương phản ấy, chị bắt đầu viết kịch bản phim truyện, phim tài liệu. Những giải thưởng từ Hội Điện ảnh Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam… đến như những bông hoa nở trên lối đi mà chị chưa từng nghĩ sẽ có.
Ba mươi năm trôi qua. Ba mươi năm của một người phụ nữ làm nghề kể chuyện trong lực lượng CAND – nơi mỗi ngày đều có những câu chuyện đứng giữa lằn ranh mong manh của thiện – ác, sáng – tối, sống – chết. Những trải nghiệm ấy ngấm vào chị, thấm vào văn, để rồi tạo nên thứ giọng kể mà giới cầm bút rất khó nhầm lẫn: giọng kể nén chặt, tinh tế, ẩn chứa lớp trầm của một trái tim đàn bà từng chứng kiến nhiều mất mát nhưng không bao giờ mất niềm tin vào lòng tốt.
Từ “Cánh hoa hình dấu hỏi” (2006) đến “Sự giận dỗi của đêm” (2015), rồi “Khoảng riêng em” (2023), chị viết không nhiều. Chị không chạy đua, không xem con số là thước đo. Nhưng mỗi lần xuất hiện, người đọc lại như thấy trước mặt mình một cánh cửa mở vào những ngóc ngách nhỏ nhất của thân phận: những người phụ nữ lẻ loi nhưng vẫn khao khát hát lời của tình yêu nồng nhiệt, những người đàn ông giữ trong lòng một vết thương không biết kể cùng ai, những đứa trẻ chạm vào bóng tối rồi bỗng bật sáng lên một cách lạ lùng.
Chị kể về họ bằng sự dịu dàng và đôi khi, bằng cả nỗi xót xa. Sự xót xa của người hiểu rằng hạnh phúc đôi khi chỉ là một giấc mộng bị gió thổi nghiêng. Nhưng dù vậy, chị vẫn để lại trong mỗi truyện ngắn của mình một chút ánh sáng. Ánh sáng ấy không đến từ hy vọng lớn lao, mà từ sự bao dung rất nhỏ, rất đời thường. Và đó là thứ ánh sáng mà người đọc cần nhất.
Từ năm 2013, chị trở thành Phó Giám đốc Điện ảnh CAND, rồi đến 2020 là Phó trưởng Ban Chuyên đề Truyền hình CAND. Dù ở bất cứ vị trí nào, chị vẫn không rời văn chương. Công việc bộn bề, nhưng chị vẫn lặng lẽ dành một góc riêng cho chữ nghĩa, như người giữ lại một mảnh vườn nhỏ để trồng hoa, dù biết mùa đông đến sẽ rất khắc nghiệt.
Chị viết về lực lượng Công an, những con người gần gũi, chân thật, lặng lẽ nhưng luôn sáng lên nơi khó nhất. Đó là ánh sáng mà chị hiểu rất rõ, bởi chính chị đã ở trong lực lượng ấy, đã chứng kiến, đã ghi nhớ, đã biết ơn.
Điều đáng quý nhất: chị không bao giờ coi văn chương là thứ để khoe, mà là một món nợ. Nợ cuộc đời, nợ những phận người gặp trong công việc, nợ chính những rung động khiến chị phải viết để được giải thoát.
Như một dòng suối nhỏ vẫn tự mình tìm đường trong rừng, chị viết, bền bỉ và yên lặng. Khi đặt bút, chị lại trở thành cô gái năm nào viết “Mùa hoa dâu da xoan”: trẻ trung, run rẩy, và đầy tin tưởng vào khả năng của văn chương, rằng nó có thể giữ lại những giọt sáng mong manh mà đời sống đôi khi đánh rơi.
ĐOÀN THỊ PHƯƠNG NHUNG: VẪN HÁT LỜI TÌNH YÊU