BỘ 3 TIỂU THUYẾT CHỐNG TỘI PHẠM ĐẶC SẮC CỦA TỐNG NGỌC HÂN

Giữa vùng đất Lưỡng Giang thăm thẳm, nơi những cánh rừng từng rung lên bởi tiếng rìu lâm tặc và những bản làng còn quẩn quanh hủ tục, nhà văn Tống Ngọc Hân bước ra như một giọng kể sắc lạnh mà nhân hậu.
Là người viết trưởng thành từ miền núi, gắn bó sâu bền với lực lượng Công an và những câu chuyện an ninh trật tự nơi biên viễn, chị đã dùng văn chương để soi chiếu bóng tối, gọi tên cái ác và trả lại ánh sáng cho phận người.
Bộ ba tiểu thuyết “Âm binh và lá ngón”, “Động rừng” và “Huyết ngọc” vì thế không chỉ là văn học, mà còn là những bản báo cáo thấm đẫm nhân tính về cuộc chiến gìn giữ bình yên nơi cực Bắc Tổ quốc.
Tống Ngọc Hân cũng vừa nhận giải B cuộc thi tiểu thuyết và ký “Vì ANTQ và Bình yên cuộc sống” lần thứ 5 với tiểu thuyết “Người lạ chung huyết thống”.
VĂN HỌC CÔNG AN xin giới thiệu bài nghiên cứu (bản rút gọn) của đồng chí TRƯƠNG HUY, Giảng viên Trường Chính trị tỉnh Lai Châu, Hội viên Hội VHNT tỉnh Lai Châu về 3 tiểu thuyết của Tống Ngọc Hân.
——————

TỐNG NGỌC HÂN VÀ BỘ BA TIỂU THUYẾT VỀ ĐỀ TÀI AN NINH TRẬT TỰ NƠI VÙNG ĐẤT LƯỠNG GIANG

Một hạt giống tốt khi được gieo trên mảnh đất thuận lợi sẽ đơm hoa, kết trái. Tống Ngọc Hân, người con đất trung du, đã bén duyên với Tây Bắc như thế: như hạt mầm reo đúng đất lành. Tây Bắc ngồn ngộn chất liệu nghệ thuật, nhưng văn học Tây Bắc từng có thời dài đói tác phẩm xứng tầm để tiếp nối thời “Vợ chồng A Phủ”, “Người lái đò sông Đà”, “Tiếng hát con tầu”… Sau mấy chục năm trầm lắng, chừng mươi năm trở lại đây, dòng văn học về dân tộc và miền núi đã hồi sinh mạnh mẽ. Trong đó, hiện tượng nổi bật, được giới nghiên cứu, phê bình và đông đảo bạn đọc chú ý, là nhà văn Tống Ngọc Hân.
Tống Ngọc Hân có lối viết riêng, độc đáo, luôn chọn những cốt truyện mới mẻ, lạ lẫm mà lại rất gần gũi với đời sống người vùng cao. Chị có sức viết bền bỉ, đến nay đã ấn hành khoảng 20 đầu sách. Nổi bật trong đó là bộ ba tiểu thuyết viết về vùng đất Lưỡng Giang, dải đất nằm giữa hai con sông lớn của Tây Bắc: Âm binh và lá ngón, Động rừng, Huyết ngọc. Đây là ba cuốn sách về đề tài an ninh trật tự nhưng không đơn thuần minh họa, mà mở ra nhiều suy tư về thế thái, nhân tình.

1. ÂM BINH VÀ LÁ NGÓN: CUỘC CHIẾN VỚI HỦ TỤC LẠC HẬU

Ngay từ nhan đề, “Âm binh và lá ngón” đã gợi một thế giới u minh, ma mị. Người đọc dễ tưởng đây là câu chuyện thuần huyền bí, đầy bùa ngải, ma quỷ của vùng cao. Nhưng càng đi sâu, càng thấy Tống Ngọc Hân không cổ súy mê tín, mà dùng cái vỏ huyền bí để phơi bày một thực tại nhức nhối.
Tiểu thuyết mở ra trong mùa xuân trên rẻo cao biên giới Mùa Sán, nhưng đó là một mùa xuân đầy lo âu: Mỷ – vợ Chinh – mất tích cả tháng trời khi đi chợ Ngải Thầu. Phụ nữ trong bản không dám đi nương một mình. Xác không đầu của mo Dính trên núi Plâu, lời phán của thầy Lẩu về “âm binh mở đại tiệc”, về “ngàn vạn âm binh luôn theo sát và hỗ trợ đời sống đồng bào mình”… tất cả khiến cái chết, bệnh tật đều được quy cho “âm binh và lá ngón”. Trong mắt dân bản, ở vùng này có hai “kẻ giết người lạnh lùng mà công an dù biết cũng không thể bắt cúi đầu chịu tội”: ấy là âm binh và lá ngón.
Song song dòng huyền bí ấy là dòng tự sự về những mờ ám trong làm ăn với khách Kiều A bên kia biên giới: những chuyến buôn pin, những bao hàng lạ, những cuộc đổi chác rắn, ếch, cây thuốc, móng trâu, phấn lúa nếp… Ẩn dưới đó là ma túy, là tội phạm xuyên biên giới. Khi sự thật được bóc gỡ, mọi lớp màn siêu hình tan biến: những viên pin Chinh buôn là vỏ bọc ma túy; cái đầu lâu mo Dính là mưu tống tiền; thầy cúng Lẩu là kẻ lừa đảo và buôn người; trưởng bản Thào Chớ nuôi mộng lập “vương quốc riêng” bị bắt cùng đầy đủ tang chứng, vật chứng. Vụ án chính trị – hình sự phức tạp gắn với đường dây từ bên kia biên giới được lực lượng chức năng bóc gỡ.
Không có ba vạn âm binh nào cả. Chỉ có đói nghèo, ít học, tảo hôn, gia trưởng, nghiện hút, hủ tục kéo người dân vào vòng tăm tối. Tác phẩm đặt ra những câu hỏi nhức nhối: vì sao thế kỷ XXI rồi vẫn còn những bản “tứ không”: không điện, không đường giao thông, không trường học, không trạm y tế? Vì sao ở những nơi nhân dân đang gồng mình giữ từng tấc đất biên cương, chính sách an dân vẫn chưa thấm sâu? Khi ánh sáng pháp luật, y tế, giáo dục chưa đến kịp, người dân dễ bị kẻ xấu lợi dụng, xúi giục buôn ma túy, bán đồng bào, thậm chí bán cả “quyền công dân” của mình.
“Âm binh và lá ngón” vì thế không phải là chuyện ma quỷ, mà là bản cáo trạng đối với hủ tục và sự lạc hậu, đồng thời là lời nhắc về trách nhiệm của Nhà nước, của lực lượng Công an và các ngành trong công cuộc an dân, giữ gìn an ninh trật tự vùng biên.

2. ĐỘNG RỪNG: CUỘC CHIẾN CHỐNG THAM NHŨNG

“Động rừng” ban đầu cuốn hút người đọc bằng mối cừu thù giữa hai dòng họ từ thời cải cách ruộng đất: họ Trần địa chủ và họ Đinh bần cố nông. Một bên bị đấu tố, xử bắn; một bên được chia nhà cửa nhưng lại sống trong nơm nớp lo sợ trả thù rồi phải trốn lên Lưỡng Giang. Oán thù đời trước chưa dứt, oan nghiệt đời sau lại ập đến, những mối quan hệ chằng chịt giữa con cháu hai họ kéo dài hơn nửa thế kỷ, dẫn đến ly tán, ân hận, tù tội.
Nhưng đằng sau lớp vỏ gia tộc – ân oán, “Động rừng” thực chất là cuốn tiểu thuyết về cuộc đấu tranh chống cái ác, chống tham nhũng và tàn phá tài nguyên. Tác phẩm ghi lại một giai đoạn đau xót, khi ở Tây Bắc, những cánh rừng hàng trăm năm tuổi bị tàn phá không thương tiếc: chặt gỗ, khai thác thuốc quý, săn bắt thú rừng, đào đãi khoáng sản… Cứ thứ gì từ rừng kiếm được tiền là bị tận diệt, trong bối cảnh pháp luật còn lỏng lẻo, một số cán bộ địa phương lộng hành như “ông vua con”.
Đối lập với đó là phía đại diện cho công lý: cán bộ công an Dũng, kiểm lâm Chung… kiên trì đeo bám, đấu tranh với ông Đại, trùm xã hội đen núp bóng doanh nhân, cùng những kẻ tiếp tay trong bộ máy. Cuộc đấu tranh ấy kéo dài nhiều năm mới xóa được “một thời Lưỡng Giang nhộm nhoạm, cướp bóc, trộm cắp, cờ bạc, phiện sái, lừa đảo tít mù”, trả lại cho vùng đất này một diện mạo mới, với những người lãnh đạo tốt, những dự định phát triển đường hoàng.
Điều làm “Động rừng” đọng lâu trong lòng người đọc là những triết lý nhân sinh được gửi gắm tinh tế. Ông Dỡ căn dặn con cháu: “Sống phải có chỗ cho ăn năn hối cải”. Quán chăm vợ điên mà nhận ra “nếu không có những biến cố lớn, chẳng ai nhận ra cái chân giá trị đang tồn tại trong mỗi con người. Đấy là sự tha thứ”. Tác phẩm chạm vào vùng rất khó nói: cái ác, cái sai trái thuộc về “thân tình máu mủ” nên người ta biết nhưng không thể, hoặc không dám lên tiếng.
Những suy tư về Nhân – Quả, về “nhà giam là nơi tự cải tạo”, về việc nếu con người không tự nhận ra tội lỗi thì mọi giáo huấn chỉ như “nước đổ lá khoai”, cho thấy Tống Ngọc Hân không chỉ kể chuyện phá rừng, tham nhũng, mà còn đi tới cái lõi đạo đức: sự tự giác thức tỉnh. Những kẻ “hạ cánh an toàn” trước pháp luật vẫn còn tòa án lương tâm soi xét. Đọc “Động rừng”, người ta không chỉ căm giận cái ác, mà còn được gợi mở về con đường hoàn lương, về trách nhiệm cá nhân trước thiên nhiên, cộng đồng.

3. HUYẾT NGỌC: MỘT XÃ HỘI TRANH TỐI TRANH SÁNG

“Huyết ngọc” mở ra bằng một không gian rất điện ảnh: phố Ắc Quy, đoạn dốc từ chân cầu treo xuống bến sông, dài chừng năm chục mét, có mười hai nóc nhà “chín người mười làng”. Quán nước của cụ Bưởi, tiệm vá của Thoan, dãy quán sạc ắc quy, nhà thu mua đồng nát, hộ chuyên vớt xác, nhà lang Túy bốc thuốc… tất cả làm nên một “con phố không có số nhà, nhà không có bìa đỏ”, nơi dân tứ xứ trôi dạt về. Bề ngoài là xô bồ, tạp nham, nhưng bên dưới là một xã hội thu nhỏ với đủ dạng người, dạng đời.
Từ cái nền phố Ắc Quy ấy, câu chuyện Huyết ngọc được triển khai như một huyền thoại đẫm máu. Cặp đá rubi đỏ, báu vật của một dòng họ người Tày, từng được già làng đem đổi lấy muối cứu dân. Từ khi rơi vào tay thổ ty Hoàng Trọng Mịch và con là Hoàng Trọng Tôn, Huyết ngọc trở thành nguyên cớ cho những cuộc ám sát, hiếp giết, truy đuổi truyền kiếp. Cô gái Tày xinh đẹp bị giam cầm, hãm hiếp; đứa trẻ bị đánh cắp; cụ Bưởi mang con trai dấn thân vào đời giang hồ chỉ với một câu hỏi ám ảnh: “Huyết ngọc ở đâu?”. Bà quyết tìm để hủy diệt nó, chấm dứt những cảnh đổ máu, tai ương.
Sau hơn sáu mươi năm chìm nổi, cụ Bưởi tính toán được rằng Huyết ngọc đang ở vùng Lưỡng Giang, sẽ có giao dịch tại phố Ắc Quy. Những con người khác cũng bị hút vào quỹ đạo ấy: Thoan, cô gái đẹp như huyền thoại, hậu duệ của dòng thổ ty cũ, luôn cho mình là người thừa kế chính đáng báu vật; lang Tuý, kẻ trí thức đổ đốn; Khánh, tay buôn lâm thổ sản bỗng sinh lòng tham; Tào Tuyết Đường, gã người Hoa mang bí mật dòng ngọc; cùng cả một dãy “hảo hán” phố Ắc Quy sống bằng nghề vớt xác, buôn lậu, cờ bạc, giang hồ…
Trung tâm của những vòng xoáy ấy là Thoan: đẹp, kiêu hãnh, từng chịu đựng đủ nhục nhã từ gia đình, bãi đá đỏ, chốn làng chơi, nhưng vẫn “xinh đẹp không tì vết”. Huyết ngọc vừa là lời nguyền, vừa là chiếc gương soi lòng tham và số phận của cô. Cụ Bưởi từng chèo thuyền ra giữa hồ thủy điện, thả một viên Huyết ngọc xuống nước: “Viên ngọc xoay tít trong xoáy nước đỏ ối… nước hồ xanh miên man, như chưa từng nhận vào lòng một báu vật mà con người suốt trăm năm đảo điên vì nó”.
Ở giao dịch cuối, Mạc, người đàn ông đem đến cho Thoan một lý tưởng sống tử tế – dùng tiền của mình mua viên ngọc còn lại chỉ để phóng thích nó. Anh đặt Huyết ngọc vào tay Thoan, tin rằng cô đã đủ trải nghiệm để lựa chọn. Nhưng lòng tham thắng thế: Thoan đạp Mạc xuống dòng nước xiết, giữ lại ngọc, rồi trở về tìm cụ Bưởi với ý muốn “rạch ròi” ân oán. Cụ Bưởi, tưởng báu vật đã được giải thoát, khi thấy Huyết ngọc xuất hiện lần nữa trên tay Thoan đã sốc nặng và đột tử. Đó là lần đầu tiên Thoan trực tiếp “giết người, giết chính người mẹ tinh thần mình từng thương kính.
Chỉ khi mất gần hết, Thoan mới soi lại đời mình: “Đã có khi nào Thoan cùng đường đâu? Có ngày hôm nay là do Thoan, chứ không phải do dượng hay cái lý giải hồng nhan bạc mệnh của người đời”. Sau cùng, khi chứng kiến sự sám hối của những kẻ từng sa ngã như Trường, Khi trong trại giam; khi thấy Phấn, trùm khoáng sản, quyết “rửa tay gác kiếm”, trả lại sự yên bình cho dòng sông, Thoan mới hiểu: “Khi con người ta cởi bỏ được lòng tham là khi nhẹ nhàng nhất”. Cô đứng trước dòng nước, ngắm nghía Huyết ngọc rồi ném nó xuống sông. Đó là hành động muộn màng, nhưng mở ra khả năng cứu rỗi.

KẾT LUẬN

Bộ ba tiểu thuyết đầu tay của Tống Ngọc Hân về đề tài an ninh trật tự ở vùng đất Lưỡng Giang tiếp cận hiện thực từ ba góc cạnh khác nhau: “Âm binh và lá ngón” là cuộc đấu tranh với hủ tục lạc hậu, mê tín và tội phạm vùng biên; “Động rừng” chạm vào vấn đề nóng bỏng của thời hiện đại – tham nhũng, lợi ích nhóm, tàn phá rừng; “Huyết ngọc” đậm chất tự sự, lấy một xã hội tranh tối tranh sáng và những phận người bị lòng tham ám chi phối để đánh thức lương tri.
Bên cạnh cốt truyện hấp dẫn, bộ ba tiểu thuyết còn cuốn hút bởi tri thức phong phú về văn hóa, phong tục, cảnh quan Tây Bắc, bởi những đoạn văn giàu chất tạo hình và những suy tư nhân sinh sâu sắc. Khép trang sách lại, người đọc mang theo nhiều day dứt về tốt – xấu, đúng – sai, trắng – đen, về trách nhiệm của mỗi cá nhân trước cộng đồng, trước Tổ quốc, trước chính cuộc đời mình.
Tôi gọi những trang sách của Tống Ngọc Hân là những trang sách thức tỉnh….