“Đi tìm cái tôi đã mất” của cố nhà văn Nguyễn Khải không phải là cuộc độc thoại của một nhà văn ở bên kia dốc đời, mà là bản tự kiểm nghiêm khắc của một trí thức từng đi trọn thế kỷ biến động. Ở đó, văn chương không ru ngủ, minh họa khẩu hiệu, mà trở về đúng bản chất của nó, nhìn thẳng vào con người, vào quyền lực, vào tự do, và vào cái giá phải trả khi đánh mất cái tôi cá nhân trong đám đông.
VHCA trân trọng mời quý độc giả cùng đọc lại vài đoạn trích trong tác phẩm này.
1. Về tuổi già, viết và cái nhìn nhân sinh
“Sang tuổi bảy mươi, mọi hoạt động của con người đều chậm, đều kém, riêng cái chuyện viết lách của tôi vẫn giữ được phong độ gần như xưa… riêng cái nhìn thì trào lộng nhiều hơn, ngậm ngùi nhiều hơn. Nó là thứ hương vị thơm ngát chắt ra từ hơn bảy mươi năm được làm người”.
2. Về hài hước và trí tuệ tự phản tỉnh
“Tôi có một thứ mà nhiều người thiếu: cái tính hài hước bẩm sinh, trước hết là biết giễu mình. Theo dõi từng bước đi, từng câu nói của chính mình bằng cái nhìn của người khác, vừa nghiêm khắc vừa bỡn cợt”.
3. Về học thuyết, quyền lực và con người
“Mọi lời tiên tri đều có tính mê sảng. Dành cả một đời để tin vào những lời ấy, về già nhìn lại cái tài sản tinh thần thâu góp một đời chỉ là một kho chứa đủ tạp nham, chẳng có mấy giá trị”.
4. Về văn chương và tự do cá nhân
“Văn chương do con người làm ra để trao tặng cho con người một cách tự do nhất. Mục đích ‘giáo dục’, ‘tải đạo’ nếu lộ liễu thì văn chương đã trở thành tồi”.
5. Về con người thật
“Con người mặc nhiều lớp áo là con người giả. Con người bị lột trần, chỉ còn cái lõi của nó mới là con người thật. Cái lõi ấy muốn thay đổi có khi phải mất gần cả một đời người”.
6. Về đám đông và cá nhân
“Đám đông không thể làm ra văn chương. Văn chương bao giờ cũng thuộc về những tiếng kêu của con người để đòi lại những gì còn thiếu: tự do, công bằng, hạnh phúc”.
7. Về văn chương
“Văn chương do con người làm ra để trao tặng cho con người một cách tự do nhất, ít bị ép buộc nhất. Chỉ có văn chương mới tôn trọng mọi giá trị của cá nhân, tôn trọng mọi lựa chọn của cá nhân kể cả những thành kiến phi lý của họ. Họ có quyền yêu mình hoặc ghét mình , tôn vinh mình hoặc nguyền rủa mình, chả sao cả.
Người viết cứ viết người ghét cứ ghét kể cả cái quyền ném sách vào lửa. Cái mục đích “tải đạo”, “giáo dục” của văn chương không bao giờ lộ liễu, lộ liễu là văn chương tồi. Vả lại chính người viết cũng không có ý định ấy, họ viết bằng tâm sự thành thật của mình, những trải nghiệm đau đớn của mình, họ viết cho họ trước rồi cho độc giả sau, có khi họ cũng chả nghĩ đến những người sẽ đọc họ, viết mà chơi thôi, viết để giải sầu rồi tự mình ngậm ngùi với mình, ứa lệ với riêng mình.
Chả trách ai cả, chả giận ai cả, cũng chả lên án một ai. Vì không có vật cản nào nảy sinh trong ta khi đọc nên chữ nghĩa của tác phẩm cứ mặc nhiên trôi vào tận những kẽ ngách trong cái tâm sự u uẩn, những khát vọng thầm kín của riêng ta, đọng lại trong ấy, rồi cứ thẩm thấu dần dần vào cái thế giới tinh thần của ta một cách vô thức, giúp ta nhận ra một vùng sáng mới lạ nào đó, gột rửa một vài thành kiến, thay đổi một vài quan niệm, và ta vẫn nghĩ một cách khoan khoái là chính tự ta đã chủ động thay đổi, tuyệt nhiên không theo lời chỉ bảo của một ai cả, của một học thuyết nào cả, hoặc nhập vào một cách bất chợt một phong trào thời thượng nào cả.
Bất cứ cái gì xa lạ với bản tính của mình, với thói quen của mình, nói một câu, với những gì làm nên lai lịch của mình, chả sớm thì muộn đều bị đào thải để mình lại được trở về với cái nguyên gốc”.