Lê Va đến Hòa Bình năm mười tám tuổi và chưa bao giờ rời khỏi miền núi ấy trong tâm hồn mình. Sông Đà, rừng Mường, những bản làng mờ sương đã âm thầm nhào nặn ông. Từ một người lạ bước lên dốc núi, ông trở thành kẻ thuộc về vùng đất này. Thơ ông sau đó chảy theo nhịp nước sông, theo tiếng chiêng, theo mùi khói bếp; mộc mạc mà cuộn lên sức mạnh của văn hóa Mường và hơi thở núi ngàn. Một đời ở lại, để viết và để trả nợ ân tình với đất.
Người ta thường nghĩ đi xa là rời bỏ, nhưng với Lê Va, đi xa chính là tìm lại. Ông rời quê cũ, mang theo cái nếp sống đồng bằng, để rồi nhận ra nơi núi rừng lại mở ra cho ông thứ gần gũi nhất: cội nguồn, bản sắc, và phần tâm hồn chưa từng được gọi tên. Núi không nói, suối không đòi hỏi, nhưng chúng đã thì thầm với ông bằng thứ ngôn ngữ thô mộc mà sâu thẳm, dạy ông lắng nghe những điều âm thầm nhất của con người.
Thơ của Lê Va không phải những ngọn gió thổi qua thung lũng rồi mất hút. Nó là hơi ấm từ một bếp lửa trong nhà sàn lúc chập tối, là dáng người Mường lặng lẽ đón khách bằng một cái gật đầu, là tiếng nước reo dưới cầu tre khi ông dừng lại để nghĩ về tuổi trẻ đã trôi như mây trên đỉnh núi. Những hình ảnh tưởng bình dị ấy lại trở thành thế giới nghệ thuật của ông: nơi con người được soi rọi dưới vầng sáng của ký ức, của niềm tin, và cả của nỗi bâng khuâng không biết gọi tên.
Nhiều năm đi thực tế, nhiều năm lội suối băng rừng, ông đã để đôi chân đi trước và trái tim khẽ chậm phía sau. Mỗi bước chân như một cách tìm lại một mảnh lịch sử của người Mường, một vệt ký ức bị dòng đời che lấp. Ông kể chuyện người Mường di cư vào Nam năm 1954 như kể chuyện cây lim già bị tách khỏi rừng cũ nhưng không đánh mất mùi hương của đất mẹ. Những điều đó không chỉ là tư liệu văn hóa. Đó là cách ông nói về con người: những phận đời đi rất xa để giữ được cái gần, cái thật, cái không rời bỏ.
Và thơ, với ông, không phải công việc. Nó là sự cứu rỗi. Nó là phương tiện để ông trả lời những câu hỏi của chính mình khi đứng giữa lưng chừng đèo, nghe tiếng chim rừng lạc nhịp trong sương. “Viết là cách để giữ lại những gì đang bị thời gian xóa mờ”, ông nói thế, như một lời thú nhận về cuộc đời miệt mài đi tìm và đi giữ.
Từ người chiến sĩ công an đến người giữ hồn văn hóa Mường, từ nhà thơ đến người khơi dòng cho lớp trẻ, Lê Va bước đi bằng một nhịp điệu trầm ổn. Trong mắt ông, văn chương trước hết là một hành động sống, một cách gìn giữ cái đẹp mong manh như sợi khói bếp, dễ tan nhưng không thể thiếu. Ông không viết để ca ngợi, không viết để làm đẹp, mà viết để một phần đời sống được kể lại, được thở, được đứng bên cạnh chúng ta.
Có lẽ vì thế mà những câu thơ của ông mang âm sắc vừa gần vừa xa, như tiếng chiêng Mường ông từng mang sang Lào, như ánh nhìn của những người vùng cao đón khách, ít lời nhưng đầy nghĩa. Người đọc có thể không biết hết những địa danh trong thơ ông, nhưng ai cũng nhận ra sự chân thực của một trái tim đã sống hết mình với vùng đất.
Đi xa để tìm gần, câu nói tưởng như giản dị, lại là định mệnh của Lê Va. Ông đi qua những ngọn núi, những cánh rừng, những bản làng cheo leo, để thấy rằng nơi trú ngụ của một con người không chỉ là căn nhà có mái, mà còn là miền sâu thẳm trong tâm hồn. Và thơ ông, như những dòng nước chảy qua đá, đã khắc lại điều ấy bằng sự lặng im, sự nhân hậu và sự bền bỉ của người mang trong mình cả tiếng sông Đà và tiếng thở của rừng già.
________
Thứ bảy, VĂN HỌC CÔNG AN trân trọng giới thiệu bài thơ “NGƯỜI VÙNG CAO ĐÓN KHÁCH” của nhà thơ LÊ VA, đã được đưa vào sách giáo khoa.
NGƯỜI VÙNG CAO ĐÓN KHÁCH (2003)
Khách đến
cứ làm bạn với ghế mây cái đã
chủ nhà lặng im
tiếp sức cho lửa
đón nước vào bếp
lửa hát
nước reo
người cất lời
Đỡ lấy cái nhọc đường xa
chuyền cái hơi thơm của bản
chén trà đu đưa
ấm lòng bát rượu men rừng mở lối
hỏi thăm bố mẹ gửi tình
hỏi thăm anh em chia phận
nói lời dốc đứng
cử chỉ khúc khuỷu
tình đầy như mây trắng quanh năm
bụng trong như mùa thu suối sớm
Chén rượu chao mang
nhìn sâu mắt khách
bắt tay nổ đốt
người vùng cao cười
nụ cười của em bé trong nôi.
(rượu chao mang = rượu chia tay)