Ngày 19.1, Hội Nhà văn chính thức công bố giải thưởng văn học 2025. Theo đó, tiểu thuyết “Miền đất hứa” của nhà văn Lê Thanh Kỳ đã được trao giải chính thức, bên cạnh 2 tập thơ, 1 tập phê bình và 3 giải tác giả trẻ. Điều đáng nói, “Miền đất hứa” được phát hành khá lặng lẽ trước đó, nhưng lại được hội đồng văn xuôi của Hội Nhà văn đánh giá cao.
“Miền đất hứa” không kể một câu chuyện lớn. Nó chỉ đặt con người vào đời sống và để đời sống tự lên tiếng. Những người lao động bước ra từ trang sách của Lê Thanh Kỳ không mang dáng vẻ anh hùng, cũng chẳng bi lụy. Họ sống, làm việc, va đập, mỏi mệt, như cách hàng triệu con người đang tồn tại ở các đô thị hôm nay.
Cái “đất hứa” trong cuốn sách không phải miền đất cụ thể, càng không phải giấc mơ lấp lánh. Nó là lời hứa lơ lửng, luôn được nhắc đến nhưng hiếm khi chạm tới. Ở đó, con người rời quê mang theo hy vọng, rồi dần học cách tồn tại giữa những căn phòng trọ chật chội, những công việc bấp bênh và những mối quan hệ mong manh như chính thân phận của họ.
Văn Lê Thanh Kỳ không cầu kỳ. Anh viết như người đã sống đủ lâu trong những vùng tối của đời sống lao động để hiểu rằng, không cần tô đậm nỗi khổ, chỉ cần đặt nó đúng chỗ. Những chi tiết nhỏ, bữa ăn tạm, đồng lương chậm trả, cái mệt lả sau ca làm, lặng lẽ xếp chồng lên nhau, tạo nên sức nặng mà người đọc khó thoát ra.
“Miền đất hứa” đáng đọc không phải vì bi kịch, mà vì sự tỉnh táo nhân văn. Cuốn sách buộc ta nhìn thẳng vào một câu hỏi giản dị mà day dứt, điều con người cần nhất không phải là giấc mơ lớn, mà là một đời sống tử tế, nơi lao động được tôn trọng và nhân phẩm không bị rẻ rúng.
Khép lại trang sách, “đất hứa” vẫn ở đó, xa mờ, chưa thành hình. Nhưng chính sự dang dở ấy khiến cuốn sách ở lại lâu hơn trong người đọc, như một nhắc nhở âm thầm: đừng vội tin vào những lời hứa, nếu đời sống con người chưa được đối xử công bằng.
Một số trích đoạn của “Miền đất hứa”:
“… Công việc của toán công nhân móc cống đã quá quen thuộc, bình thường, không có gì khác ngoài sự lặp lại, nhưng với tôi lại là một phát hiện mới mẻ, sánh với phát minh của Đỗ Khang thời nhà Tây Chu – Tửu thánh của ngành rượu Trung Quốc. Phát hiện của tôi còn hiện thực hơn của ông ấy nữa cơ! Những đĩa cơm bụi bình dân ở đầu ngõ hẻm đang nằm im lặng ở dưới kia. Mỏ vàng hay kim cương đang nằm im thin thít đợi thầu khoán mà tôi mới là người được chỉ định thầu. Sự mừng rỡ của tôi cũng không khác gì ông chủ của một công ty khai thác dầu mỏ ở đâu đó ngoài khơi Thái Bình Dương, lần đầu được nhìn thấy dầu ở lỗ khoan thăm dò dưới đáy biển. Sau này thì tôi ngẫm ra niềm vui của tôi và của ông chủ kia là hai niềm vui hoàn toàn khác nhau. Niềm vui của kẻ đi kiếm ăn và kẻ làm giàu chẳng giống nhau tí téo nào.”
“… Những con cá trắng ăn sạch, ở sạch nên ít khi chịu đi kiếm ăn ở những vùng nước bẩn. Tôi nắm chặt con cá diếc trong tay và hỏi có phải mày muốn đi đẻ ở bệnh viện phụ sản Hà Nội phải không? Chỉ cần mày nói một câu “đúng” là tao thả mày ra liền. Con diếc ưỡn lên, giẫy đến là khỏe, cái mồm ngão ra, ngáp liên tục chắc là nó nói tiếng cá mà tôi lại không nghe được tiếng cá. Thế là tôi cười lên vui vẻ và không còn ngửi thấy mùi thối nữa. Có thể do ngửi nhiều rồi quen đi, cũng như các hộ dân nuôi lợn trên nhà tập thể cao tầng, ngủ chung với lợn, hương người và hương lợn hòa vào nhau làm một. Đấy cũng là cách để sống sót trong thời kỳ nhẫn nhịn trước chế độ cũ, thời kỳ mà người lao động không được tự quyết những sản phẩm do chính mình làm ra”.
“Những người xóm trọ dậy sớm chuẩn bị hàng họ cho một ngày mưu sinh mới đã phát hiện ra tôi đang sinh sống bằng nghề hèn hạ, bẩn thỉu nhất, khi mà người ta chỉ nghe nói đến đã rùng mình, khinh bỉ. Mới đầu thì họ mặc kệ nhưng mùi tanh lộn mửa của cá, mà cá cống có mùi tanh đến hôn mê cộng với mùi hôi thối từ người tôi tỏa ra khiến họ không chịu được, nhất là phòng trọ liền kề.”
“Ngay đến quán cơm bụi đầu hẻm cũng xua đuổi. Anh chủ quán luôn tỏ ra thân thiện với người lao động, nhã nhặn, lịch sự trước đây giờ cũng tỏ ra khó chịu mỗi khi tôi bước chân vào quán. Tất cả thực khách hễ nhìn thấy tôi là muốn bỏ chạy. Tôi không hiểu mọi người nghĩ gì. Tại sao họ lại tỏ ra khinh bỉ với nghề bắt cá cống? Thế là tôi bỏ đi đến một quán cơm khác, lòng đầy tự ái và rồi tôi cũng bị tẩy chay y chang như quán cơm thân thuộc kia.”
“Tôi đưa cánh tay trần lên ngang mũi ngửi tuyệt nhiên không thấy mùi gì lạ ngoài mùi của mình, thoang thoảng mùi xà phòng Fa của chị Quế. Tôi trình cánh tay của mình định đưa vào mũi ông chủ thì bị ông ấy lấy tay gạt ra, bàn tay kia ôm chặt lấy mũi. Tôi vừa dứ dứ vừa bảo: “Đâu, có mùi gì đâu?”, “Ông không gí mũi vào sát lỗ xả thải thì làm sao biết mùi của mình!”
“Có một anh mặc chiếc áo ja két đã cũ, da trắng, râu quai nón trông như tài tử điện ảnh. Sao anh cũng phải ra đây? Cuộc đời anh sinh ra không dành ở nơi này nhưng chắc anh đã phạm phải điều gì rất nghiêm trọng nên mới phải đem bán chút sức lực vụng về cho thiên hạ. Anh ngồi nghe mọi người nói, ngước đôi mắt đen rất đẹp, đượm màu trai lơ nhìn lên trên trời xanh rồi lấy bàn tay, ngón dài cũng rất đẹp móc trong túi áo lấy ra chiếc hộp đựng thuốc lào. Đoạn nắm bàn tay lại, năm ngón tay bóp khít tạo thành một cái thân điếu. Anh vê thuốc đặt lên chân ngón cái và đầu ngón trỏ, ghé miệng vào cùi tay, bật lửa ga rồi hút. Kiểu hút thuốc của anh cũng thật khác người. Kiểu hút thuốc của nghệ sỹ đường phố. Anh nuốt sạch chỗ khói thuốc ít ỏi ấy vào họng rồi nghèn nghẹn tâm tình….”.
“Người phụ nữ thành đạt luôn mong một người đàn ông khỏe mạnh và lãng mạn. Lành vừa khỏe mạnh, vừa lãng mạn. Chất lãng mạn của anh đầy nữ tính, tinh tế, yếu đuối. Cô cần anh mạnh mẽ hơn nữa nhưng cô biết anh chỉ cần nhích một tý thôi như một chiếc kim đồng hồ là đã chuyển sang thời khắc khác, thời gian khác, là sự thay đổi trạng thái, từ trái tim sang khối óc, từ tình cảm sang lý trí, tâm hồn thành toán học, con người thành thú vật chỉ cách nhau một khoảng nhích.”…