ÂM BINH VÀ LÁ NGÓN: CHƯƠNG 8

Mường Thàng được mệnh danh là vùng rừng thiêng nước độc. Các thầy mo, thầy pháp, thầy địa lý về Mường Thàng hành sự, ai cũng bảo thế. Thiêng như núi Plâu kia, cứ mỗi lần con dân có biểu hiện đốt rừng, phá rừng là y như rằng sấm sét giáng xuống tơi bời. Độc như nguồn nước suối Na Lúc kia, có năm trâu bò uống vào, trâu bò chướng bụng chết, người uống vào rụng tóc, ốm o, gầy mòn. Độc như hơi ẩm dưới lòng hang Đùng Đeng kia, người khỏe mạnh vào đó không sao, người ốm yếu vào thì về nằm bệt cả tuần không ngóc cổ dậy được. Các thầy pháp đều nói, xứ Mường Thàng thiêng và độc còn bởi máu tử sỹ tưới đẫm vùng đất này.
Từ bao đời nay, những cuộc chiến giữ đất, giữ bản của những người dân Mường Thàng với kẻ thù bên kia biên giới luôn gay gắt quyết liệt. Gần hai chục dân tộc anh em cùng sống, cùng làm, cùng ăn và bảo vệ tấc đất cắm dùi mà cha ông để lại. Họ nói, song song đồng hành với thế giới của mặt trời là thế giới âm, thế giới của những vong hồn, oan hồn và ngàn vạn âm binh. Những âm binh luôn theo sát và hỗ trợ đời sống của đồng bào mình. Rừng Mường Thàng cho người dân xứ này gỗ để làm nhà, củi để sưởi, măng rau để ăn, hoa đẹp để chơi, thuốc để chữa bệnh. Và rừng Mường Thàng còn mang đến cho con người ta một loài cây, để khi cần được giải thoát khỏi kiếp sống tủi nhục, bất công, con người ta chỉ cần nhai và nuốt đi vài cái lá. Đó là cây lá ngón. Người Mường Thàng khi đau không ăn lá ngón. Khi khổ cũng không ăn lá ngón. Nhưng lại sẵn sàng ăn lá ngón vì tủi, vì nhục và thất vọng.
Lại nói về cái tin đồn vợ Đái ăn lá ngón chết. Người Mùa Sán không tìm ra lí do để cô ấy phải ăn lá ngón chết. Người ta chỉ nghe Lẩu nói thế. Có tin Lẩu không là việc của mỗi người. Vì thường ngày Đái là thằng đàn ông rất chiều vợ. Dù vợ suốt ngày ốm yếu, suốt ngày vời đến thầy lang và thầy cúng nhưng Đái không bao giờ nặng lời với vợ cả. Vợ chồng Đái có ba đứa con, hai trai một gái. Đứa gái lớn nhất cũng mười ba rồi. Ở Mùa Sán, anh em nhà Chinh và Đái xếp vào hàng đủ ăn trong khi bảy mươi phần trăm dân bản thiếu đói vào vụ giáp hạt. Vợ ốm đau không làm gì, một mình Đái làm mà vẫn đủ ăn và nuôi ba đứa con là một chuyện lạ ở vùng đất này. Tuy có nhiều bàn tán, xì xào nhưng không ai ở Mùa Sán này dám lên tiếng khẳng định một điều gì bất lợi cho anh em nhà Chinh mỗi khi có người lạ hỏi đến. Vậy mà lại có cái tin vợ Đái ăn lá ngón chết. Trước đấy thì Lẩu cũng tung tin là âm binh bắt nó lên núi để chòng ghẹo. Thật là những lời lẽ không hợp bụng người.
Ngày hai tám tết, Đái tìm đến nhà Lẩu. Nhà Lẩu không giống bất cứ nhà Mông nào ở đất Ngải Thầu này. Đó là ba gian nhà sàn khá rộng rãi có cầu thang đi lên phía bên trái. Dưới sàn, Lẩu dùng đất trình kín tầng một và làm một cái cửa chính đi vào ở gian giữa. Tầng một nhà Lẩu giống cái tổ tò vò khổng lồ. Cái cửa một người đi thì rộng mà hai người cùng đi thì chật. Vì Mùa Sán chưa có điện nên người ở phía ngoài đi vào nhà Lẩu ở tầng một, nếu chỉ ngó qua thì sẽ không nhìn thấy gì. Thông thường, chỉ khi nhà có người ốm nặng, có người đẻ, gia súc đẻ hoặc cất rượu thì người ta mới cắm lá ở cổng làm dấu để tránh người vía dữ. Nhưng nhà Lẩu thì tháng có đến ba mươi ngày cắm lá.
Đái đi vào cổng nhà Lẩu, tiện tay tóm lấy cành lá móc mà nhổ lên, ném vào vườn. Lành hay dữ vía thì tao đã đến là vào nhà. Lẩu ngoài bốn mươi, trạc tuổi Dó, chị gái cả của Đái. So với Đái thì Lẩu muộn con. Vì Đái mới ba mươi mà đã có con gái mười ba, còn Lẩu thì con trai lớn mới mười lăm.
Lẩu đang đứng trên sàn nhà, trông thấy Đái hằm hằm đi vào thì vội vàng đi xuống, dắt tay mời Đái lên. Đái khệnh khạng đi lên cầu thang, nom giống kẻ đi đòi nợ. Mà đi đòi nợ thật. Đái ngồi luôn xuống sàn nhà lát ván chứ không ngồi lên cái ghế mây lùn tẹt. Ghế là chỉ để cho đàn bà ngồi thêu thùa thôi. Lẩu mang ra hai cái bát con và một bình rượu bằng gốm, miệng lôi lả:
– Rượu ngô đấy, cất từ đầu năm, ngọt lắm!
Đái không để ý lời Lẩu, cũng không nhìn rượu. Nhà Đái cũng chả thiếu rượu. Lẩu nhác thấy bóng vợ ngoài hiên thì hất hàm về phía những chùm “chừ nú” (lạp xường) đang hong nắng, ý bảo vợ rán lên đãi khách.
Đái đưa tay gãi gãi má, nơi những sợi râu mọc lạc vểnh váo, cái ngang cái dọc rồi nói bằng cái giọng trách móc:
– Thế nào, ông tính thế nào? Định ăn cả mười đồng bạc hả?
Lẩu đang rót rượu ra bát thì dừng tay, giọng chỉn chu:
– Ai lại làm ăn thế, tôi đang định sang bên ấy để nói chuyện thì chú đã đến.
Đái khịt khịt mũi vì lạnh, và còn bởi mùi rượu ngô sộc vào mũi:
– Tết rồi, định làm gì thì làm luôn đi, tôi không có nhiều thời gian đâu.
Lẩu cười cười:
– Thì làm tí rượu đã chứ. Tôi gửi lại chú năm đồng được không?
Đái cười nhạt:
– Năm đồng à? Ông có muốn tôi báo công an Sử không? Ông đảm bảo là cúng hết bệnh thì tôi mới để nó ở nhà cho ông cúng. Xưa nay, có tục thế rồi, cúng mà không khỏi thì phải trả lại tiền. Chưa kể nó vừa chết ông đã tung tin là nó ăn lá ngón chết và nói là cúng chịu cho nó. Thằng Đái này đếch thèm chịu của đứa nào một đồng, nhá. Trả cả mười đồng, đừng lôi thôi. Ông biết bây giờ cưới một đứa vợ mới hết bao nhiêu đồng không?
Lẩu biết không chơi được với anh em nhà Đái nên đứng dậy đi vào buồng, lát sau thì mang ra cái túi màu chàm, đặt xuống sàn, cạnh bát rượu, nói vút đuôi:
– Bạc của chú mày cũng không phải bạc tốt!
Đái cầm cái túi đựng bạc lên, tung hứng trên hai tay như để định lượng và dùng tay trạo đi trạo lại để xem có đúng là bạc không. Lát sau Đái bưng bát rượu lên, cạn một hơi rồi đặt bát xuống. Sau đó, Đái lần tay vào túi lấy ra ba đồng bạc trắng đặt vào cái bát vừa cạn rượu mà bảo:
– Gửi lại ông ba đồng, lấy chỗ đi lại, biết đâu sau này lại thông gia với nhau.
Lẩu liếc qua ba đồng bạc, vẻ dửng dưng, bưng bát rượu lên cũng cạn bằng một hơi.
Cái nghề cúng bái này cứ như là đánh bạc. Nó mà khỏi thì ăn không chục đồng bạc, bạc non thì cũng có chục triệu, nó mà chết thì trắng tay, may mà không bị bắt đền. Đúng lúc ấy thì vợ Lẩu mang đến một đĩa lạp xường rán chín, thơm phức. Lẩu nhón một miếng đưa vào tận miệng Đái. Đái nhồm nhoàm nhai vì bỏng và đứng dậy, chào về. Lẩu tiễn Đái xuống cầu thang, ra tận ngõ. Khi quay lên sàn, không thấy ba đồng bạc đâu thì trợn mắt quát vợ:
– Của mày ấy mà cất!
Vợ Lẩu xòe bàn tay ra. Lẩu vơ lấy ba đồng bạc bỏ tọt vào túi áo ngực, giọng the thé:
– Mày thấy mặt con vợ nó hôm ấy đen hay đỏ?
Vợ Lẩu chớp chớp mắt như thể nhớ lại:
– Vàng chứ, vàng khè ra, thấy có người nói nó xơ gan!
Lẩu lườm vợ:
– Câm họng, biết gì mà nói!
Vợ Lẩu vội vàng lủi xuống dưới nhà, chui vào cái tầng một tối như tổ tò vò và lục đục gì trong ấy.
Những đám mà Lẩu cúng chả may bị chết, Lẩu thường đổ cho lá ngón. Để đỡ phải đền bù nhiều. Lẩu bảo con bệnh sống vạ vật làm khổ gia đình nên tự ăn lá ngón để chết. May mà còn có lá ngón để đổ cho, chứ nếu không, đổ cho ai. Vì thực tình, đàn bà con gái Mông vùng này, mỗi khi thất vọng, chán nản và đau khổ quá, họ đều chọn lá ngón. Đồ nghề cúng bái của Lẩu, kể cũng đơn giản. Ấy là một cái chiêng đồng nhỏ thường để tấu lên lúc gọi âm binh. Dùi chiêng là một đoạn sừng sơn dương đực dùng lâu đã nhẵn thín. Một cái bát sắt để gạo và hai đồng tiền xu cổ bằng đồng để xin âm dương. Một ít lá bùa, một số làm bằng giấy đỏ, một số làm bằng vải đỏ có viết hoặc thêu những Hán tự lên đó. Một con dao nhọn có chuôi bằng sừng trâu trắng, một chiếc gậy đầu bịt kẽm và hai thanh kiếm gỗ xoan đào. Nói chung, công cụ để đuổi tà ma là những công cụ mà khi vung lên, người sống cũng phải sợ chạy bán sống bán chết thì ma mới sợ.
Ở vùng Mường Thàng này, thầy cúng rất nhiều. Ngay như Ngải Thầu, thôn người Dao thì có thầy cúng người Dao, người Nùng Dín có thầy cúng người Nùng Dín, người Mông có thầy cúng người Mông… Lúc có hơi men, Lẩu thường ba hoa là hắn có trong tay vài nghìn âm binh, ta có Tàu có. Họ toàn là những chiến binh tử trận, khi được Lẩu mời về, làm cơm làm rượu hậu đãi thì từ bỏ nơi rừng thiêng nước độc, nơi vực thẳm khe sâu, về giúp Lẩu hành thiện.
Lẩu khoe, cái hang Đùng Đeng ngày xưa là nơi ở của một con rồng có đến mười ba cái đầu phun nước khiến Mường Thàng quanh năm lũ lụt, người Mông phải chạy lên đỉnh núi sống. Cụ nội của Lẩu đã gọi âm binh về chặt bớt mười cái đầu rồng nên giờ Mường Thàng không còn lũ lụt nữa, thậm chí còn bị hạn hán thiếu nước. Chẳng qua là các âm binh khỏe quá, lỡ tay chặt mất nhiều đầu rồng…
Ấy thế, khối người tin Lẩu đấy. Dân Mùa Sán ít học, ít chữ, họ cho rằng có thánh thần và có tà ma. Đã có tà ma thì phải có người chế ngự, khống chế chúng chứ. Chỉ có thầy cúng làm được việc này. Cứ mỗi lần Lẩu bị chính quyền gọi lên phạt và làm kiểm điểm là một lần khi trở về bản Lẩu càng có thêm nhiều phép thần thông và chiêu dụ thêm được rất nhiều âm binh.
Tháng trước, trong khi cúng cho vợ Đái, Lẩu lơ mơ thấy một âm binh chạy về nói rằng trong lúc đi tìm vía người đàn bà Mông lại gặp vía của bố Lẩu. Ông nói rằng thủ cấp của ông hiện vẫn đang ở Ngải Thầu, được một người cất giữ cẩn thận. Hôm trước, thằng Vần lù lù xuất hiện, nói rằng có bảo bối và bắt hắn phải chuộc bằng hai mươi đồng bạc. Lẩu đã chuẩn bị đi chuộc bảo bối về bằng cách trộn mười đồng bạc giả với mười đồng bạc thật để đưa cho Vần rồi. Nhưng khi đến khe Pá như đã hẹn thì Lẩu không thấy Vần đâu. Qua dò la, Lẩu biết Vần đã bị Páo phát hiện và bắt giữ, giao nộp cho công an xã xử lý.
Lẩu nhận ra một điều thú vị, rằng chừng nào rừng Ngải Thầu còn cây lá ngón thì nghề cúng của Lẩu còn thịnh vượng. Vụ ăn lá ngón gần đây nhất là vụ con mẹ Xuy người Giáy ngoài Sín Chải. Trước đấy, nó có mời Lẩu đến cúng để thằng chồng nó khỏi cờ bạc. Lẩu biết, có cúng mòn chiêng cũng không lôi được con ma cờ bạc ra khỏi người thằng chồng nó nên bảo. Chỉ có thể cúng cho nó yếu đi, không lần mò đêm hôm cờ bạc được thôi. Nhưng con mẹ Xuy không nghe. Nếu thầy cúng lỡ tay, nó nằm đấy, phải nuôi báo cô thì còn khổ hơn. Thế rồi, lời ra tiếng vào thế nào không biết, chồng con Xuy về tẩn cho vợ một trận vì cái tội nhờ thầy cúng định làm nó chết. Ức quá Xuy mới ăn lá ngón đấy chứ. Vụ ấy mà không có thằng Páo là con Xuy chết hẳn. Nhưng Lẩu lại huyênh hoang là đã sai âm binh lực lưỡng lôi cổ ông thần chết ném ra ngoài rào đá nhà Xuy, vì thế mà Xuy chưa bị bắt đi.
Có lần Thào Chớ bảo Lẩu. Mày cứ thế, có lần âm binh lôi mày đi thật, rồi trừng trị mày vì cái tội khoác lác. Chuyện đùa, âm binh nằm trong tay Lẩu mà lại được phép phản chủ thế à? Rồi Lẩu chột dạ. Chuyện phản chủ từ xưa tới giờ đâu phải không có? Rồi Lẩu lại phá lên cười. Thực ra, âm binh là thằng nào, mồm ngang mũi dọc ra sao, Lẩu cũng chả rõ. Kể từ hôm theo trưởng bản đi vào đồn biên phòng Hoa Long, nom thấy hàng hàng ngũ ngũ bộ đội đang tập luyện thì Lẩu khao khát có trong tay một đội binh hùng hậu như thế để sai khiến việc. Người trần thì làm việc trần. Việc âm thì phải có người âm. Thế là Lẩu về tự lập một cái bàn thờ âm binh ngoài sân, rồi đi tìm thầy pháp, tập tọng xin bài cúng mời âm binh về cùng nhau làm việc lớn. Lẩu cũng mời mọc tha thiết với lễ lạt đầy đủ đấy chứ. Thế rồi Lẩu tự huyễn hoặc rằng mình có cả một đội quân âm binh để sai khiến thôi. Vũ khí của âm binh cũng do Lẩu tự sắm sửa cho. Toàn bằng giấy, rồi đốt đi. Khiên này, giống như phim Tầu ấy. Giáo, kiếm, đao và cả côn nữa. Rồi lúc ấy, cái lúc hành sự ấy, hứng lên Lẩu mô tả những động tác của âm binh một cách say sưa…
Dần dần, sản phẩm của trí tưởng tượng bỗng trở nên có thật. Và nhiều người tin thật. Những kẻ bán tín, ban nghi như Đái thì không nói, vì Lẩu đã có cách. Nhưng những kẻ không tin và ra sức phỉ báng chọc ngoáy nó như Chinh, như Dìn thì phải xử lý cho sáng mắt ra. Mày đã sáng mắt ra chưa hả Chinh? Con vợ mày đã bị âm binh của tao lôi vào núi Plâu mà hành hạ cho bõ ghét đấy. Lẩu định phát tín hiệu như vậy nhưng lại sợ ăn đòn ghen của Chinh nên chưa dám cho dù trong lòng hậm hực lắm. Một thằng chạm vào vợ nó, nó muốn vằm nát một thằng. Đằng này, cả đội âm binh của Lẩu hại vợ nó, chắc Lẩu phải chết nghìn lần trong tay nó mới bõ. Còn thằng Dìn, bố mày sẽ cúng cho đàn con nhà mày ế ẩm cả lũ, không ai thèm rước. Cứ thằng nào đến tán tỉnh, bố mày cho âm binh cầm chân lôi ra…Tin này thì Lẩu mặc sức tung lên trời, thả vào gió, cho loan xa khắp mọi chốn. Vì Lẩu không sợ thằng Dìn. Thằng đàn ông đi tù về khác nào con trâu bị cưa sừng, con ngựa bị bóc móng, con hổ nhốt vào chuồng. Mà thằng Dìn có tức thì cũng không dám làm gì Lẩu, vì cái thằng Sử kè kè bên cạnh rồi. Nhất cử nhất động thằng Dìn làm gì, thằng Sử đều biết.
Phải trả lại cho thằng Đái bảy đồng bạc, Lẩu tiếc buốt ruột gan. Phải nghĩ cách mà lấy lại thôi. Chứ ngồi đây mà tiếc thì được cái gì. Con bé Su nhà nó, mới mười ba mà người đã tròn, đã lẳn, thằng con trai Lẩu đã nhấm nháy thích rồi. Nhưng chắc gì nó gả con về nhà Lẩu? Vì ngày trước, nó vốn là người yêu đầu tiên của May, vợ Lẩu. Không những thế, hai người còn…Cũng biết đâu đấy. Chả gì thì ở Ngải Thầu này, Lẩu cũng là người có của, có trâu, có ngựa. Lúc trước, nó chả nói là có khi làm thông gia với nhau đấy thôi. Có thể lắm chứ. Việc cúng là cúng, việc cưới gả là cưới gả. Đằng nào đi đằng nấy. Mẹ nó chết rồi, kiểu gì thì bố nó cũng phải lấy vợ mới. Mà tốt nhất là gả chồng con gái trước rồi lấy vợ sau.
Lẩu quả tình là có cái tài sắp xếp công việc nhà người đâu ra đấy. Dù là sắp xếp trong đầu thôi, và chả ai tính công cho. Nhưng nhờ đó mà Lẩu ăn nói trôi chảy, thuận theo mọi sự. Vì đã có thời gian chuẩn bị, cân nhắc trước rồi. Vợ Đái bị bệnh gan rất nặng. Nếu ra tỉnh hoặc tìm được lang tốt thì có lẽ không chết được. Nhưng làm người, ai chả phải chết một lần, chết sớm lại càng khỏe, có sao đâu. Cũng có trường hợp, bệnh viện huyện trả về chờ chết, Lẩu cúng thế nào mà nó sống lại. Giờ vẫn sống đấy thôi. Chứ nếu lần nào cúng cũng chết thì lấy ai tin Lẩu chứ. Và cũng làm gì có tiền có bạc. Lẩu bảo với Thào Chớ rằng không thích cái điện về Mùa Sán, không thích trường học với thầy cô giáo, cũng không thích cái đường đi rộng quá. Cuộc sống thế này cũng được rồi. Thào Chớ bảo Lẩu nói có lý. Chứ cái điện về, rọi vào đầu đám ngu dân, chúng nó sáng láng ra, khó nói lắm. Nghe đâu, hồi cán bộ phòng giáo dục lên khảo sát Mùa Sán để mở phân hiệu tiểu học, chỉ vào chỗ đất nào Thào Chớ cũng bảo đất ấy dữ. Nào là chỗ ấy mấy năm trước toàn sạt lở, nào là cả gió, cứ ù ù ra, sợ học sinh ốm hết.
Nhưng Thào Chớ cũng không được người ta tin lắm. Vì điện sắp về Mùa Sán thật rồi. Cột điện kéo về, để ngổn ngang ngoài ủy ban kia. Có điện rồi sẽ có đường, có trường học. Mùa Sán rồi sẽ có mọi thứ. Chứ không như mấy thằng bên Kiều A nói là còn nửa thế kỉ nữa. Cái bọn Kiều A, thằng nào thằng ấy đi về như âm binh, cứ lén lút sao ấy. Chả bù cho Lẩu và Thào Chớ sang đất nó. Chân nện đường bồm bộp, đầu ngẩng cao và nói cười thoải mái. Nghe người già nói, đất Kiều A xưa thuộc Mường Thàng đấy. Nhưng thôi, nói chuyện xưa làm gì, đất chả xôi trên chõ mà ăn được. Nói chuyện nhân dân thôi, bây giờ họ khôn ra nhiều lắm rồi. Nhiều đứa ở Mùa Sán đã cất ngày, cất buổi ra tận thành phố chơi và mở mang nhiều thứ lắm. Ngày trước, cán bộ đi xã họp bằng ngựa, trưa đến còn phải tìm cỏ cho ngựa ăn, tìm nước cho ngựa uống. Thì giờ khối người có xe máy cưỡi. Chả lo cỏ, lo nước gì cả. Thuở mo Dính còn sống, ông thường kể, hồi trước, công an biên phòng đi tuần tra bằng ngựa, cứ theo đúng lịch là những ngày cố định trong tuần, bà con thường cắt cỏ, phơi khô, cất đi, đợi công an đi qua thì biếu ngựa của công an, thân thiện, thật lòng lắm. Ngày xưa thôi, chứ bây giờ, dân sợ công an như sợ cọp. Vì hình như càng nhiều việc, công an càng khó tính thêm thì phải. Đấy thằng Páo, lúc nào mặt cũng căng như dây nỏ, nhìn là thấy đau ngực, nên dân không dám nhìn. Khách ở đâu đến chơi nhà, công an cũng hỏi. Khách ngủ qua đêm cũng phải trình báo, nộp giấy tờ. Khách bên này thì được ngủ mà khách bên kia thì không được ngủ. Rồi mỗi khi công an đến nhà nào là nhà ấy có rắc rối. Chuyện từ bao giở bao giờ công an cũng nhớ ra, cũng moi móc lên để bàn bạc, ghi chép.
Nói tóm lại là Lẩu và dân Mùa Sán không ai ưa công an Páo cả. Nhưng mà không dám nói. Dù sợ đấy, không ưa đấy, ghét đấy, nhưng hễ có việc gì xảy ra, từ lớn đến bé, vẫn phải gọi công an đến. Vì chỉ có công an mới giải quyết được. Trẻ con khóc, quấy, nhiễu bố mẹ, dọa ma chúng không sợ vì chúng chưa thấy ma bao giờ. Nhưng cứ dọa công an bắt bỏ tù là chúng sợ, hết vòi vĩnh. Thào Chớ bảo. Dân mình là thế, cũng phải biết sợ ai đó chứ. Nếu không biết sợ cái gì thì ai lãnh đạo được dân? Mấy lần Lẩu bị công an mời lên xã. Họ chỉ phạt qua loa rồi thả về, là vì Lẩu được chủ tịch xã xin cho. Bởi vì từ chủ tịch đến bí thư xã, có ông nào mà chưa nhờ đến bố Lẩu cúng bái đâu. Bố Lẩu là thầy cúng chính hiệu và tử tế, tốt bụng nhất vùng này. Thế nên suốt đời nghèo khổ. Có hai cái răng vàng thì cũng chỉ là mạ vàng. Ăn không dám nhai mạnh, chứ sướng gì? Vì sợ mòn mất của, sợ bong tróc mất của. Thật hay giả. Công an hỏi nhiều lần, Lẩu cứ lập lờ nói là không biết. Thế mà hóa lại hay. Giờ là lúc Lẩu phải dùng cái uy, cái tiếng tốt của bố mà kiếm tiền chứ. Có người đỡ đầu, bao bọc nên Lẩu nhờn mặt hết lượt các quan chức ở xã rồi. Kể từ trưởng công an Sử đến trưởng ban văn hóa xã, Lẩu chả hốt ai cả. Ấy thế mà, ở Mùa Sán, Lẩu lại sợ Chinh mới lạ. Nó là thằng thổ phỉ thời đổi mới. Nó phi dao chuẩn xác kì lạ. Nhất là cái tài chém thịt ở chợ. Và những trận ẩu đả, chưa bao giờ nó biết thua là gì. Thằng ấy, may nó là thường dân, chứ nó mà là công an hay trưởng bản thì khối đứa khốn đốn với nó.
Tết đến nơi mà cứ thấy ắng lặng thế nào ấy. Thi thoảng tiếng pháo tép đứa trẻ con nào đốt vụng nổ lẹt đẹt một tí, đủ để mấy con chó gié sủa lên vài tiếng rồi lại thôi. Lẩu đã lên kế hoạch cụ thể cho ngày hai chín, ba mươi rồi. Ba mươi tết thì mời ai, thịt mấy con gà, uống mấy bình rượu. Đùng cái thằng Đái đến đòi bạc. Cơ sự này, vui gì mà rượu chè, hoãn lại hết. Chiều ba mươi tết năm nào Thào Chớ chả mở tiệc mời khách và cả nhà Lẩu đến đánh chén. Thôi…cứ thế đã. Rồi sẽ tính tiếp. Tết là của trẻ con và người già thôi. Chứ nhầng nhầng bốn chục như Lẩu rồi, quan trọng gì nữa. Vui thú gì nữa mà tết.