ÂM BINH VÀ LÁ NGÓN: CHƯƠNG 7

Mường Thàng núi thành vách dựng lớp lớp, tầng tầng, ai đã từng đặt chân đến đây vào mùa đông, hẳn cả đời không thể nào quên được cái buốt giá bủa vây của núi đá. Len lỏi giữa các thành lũy đá ấy là một hệ thống hang động kì bí. Người ta vẫn gọi là hang Rồng, nhưng dân ở vùng Ngải Thầu này thường gọi là hang Đùng Đeng, gọi theo cách gọi của người Nùng.
Hang Đùng Đeng nếu ví như cái nhà tù thì nó đủ rộng nhốt cả vài nghìn người tù binh. Nếu ví như cái bếp, nó bắc cả trăm cái bếp cũng đủ. Lòng hang có suối nước ngầm, có nhũ đá, có cỏ rác khô lót thành đệm ngủ. Nhưng trong hang không có gạo. Đói sinh ra rét, rét từ trong bụng rét ra ngoài đầu ngón tay, ngón chân, rét không ngủ được. Vần mon men mò ra cửa hang, thấy đụn khói từ nương nhà nào đó luẩn quẩn chui lên, Vần lại thụt vào. Mùi khói thơm quá. Trong khói có mùi hơi cơm, có mùi mèn mén, có mùi thuốc lào, có mùi hạt dổi, mùi tết. Gió đưa vào lòng hang ẩm ướt, lạnh lẽo một chút những thứ mùi đó như khiêu khích rồi lại cuốn đi. Vần ngồi yên trên một mom đá cửa hang được che bởi một cây móc già xòa bóng.
Hang Đùng Đeng giống như một con sông trong lòng đất. Con sông ngầm ấy có nhiều cửa con và ba cửa chính. Một cửa thoai thoải nằm ở Sín Chải, một cửa ăn thông lên Lùng Vai bằng một cái giếng sâu đến gần chục sải tay, một cửa ở tận trên Mùa Sán, bò ra họng khe Pá, cách đường biên có dăm phút leo dốc, cái chỗ mà dân Mùa Sán vẫn xếp hàng hứng nước về ăn uống tắm giặt ấy. Không ai biết rằng, đi qua cái miệng hang lởm chởm nhũ đá sắc như răng quái thú ấy là sẽ tiến sâu vào hang Đùng Đeng. Các ngõ ngách trong hang Đùng Đeng, Vần không thực sự thuộc hết nên chỉ loanh quanh ở cửa Sín Chải, nếu thấy động thì chui ra miệng giếng phía Lùng Vài và chạy lên rừng già. Vần không dám về bản nữa vì Vần sẽ bị bắt ngay lập tức. Số tiền anh trai tiếp tế cho, Vần mua ma túy dùng dè, còn thức ăn thì là mấy thứ quả bí bầu sống sít Vần vặt của đồng bào lúc chạy qua nương, giờ thì cũng hết rồi. Vần định bụng sẽ liều một phen nữa. Nhưng không phải là về Sín Chải, mà sẽ đến Mùa Sán. Vần sẽ đến nhà Đái. Đái là em trai của Dó, chị dâu Vần. Chả nhẽ nó lại có thể nhìn Vần chết đói? Ở Mùa Sán, có một đứa mà Vần rất ghét, ấy là thằng Páo. Nghe nói thằng Páo mới lên làm phó trưởng công an xã. Ghét là vì vợ thằng Páo vốn là đứa con gái đầu tiên và duy nhất Vần thích và muốn lấy làm vợ, nhưng nó chê nhà Vần không ra gì, nó khinh Vần hút thuốc phiện nên không lấy, nó lấy Páo. Vần ghét nó và ghét luôn cả Páo, chồng nó.
Cái bụng sôi òng ọc vì đói khiến Vần không còn chút thể diện nào nữa cả. Trời vừa nhập nhoạng thì Vần chui ra từ họng khe Pá. Vần mon men xuôi dốc đi về phía nhà Đái. Con đường rất nhỏ, cỏ rác hai bên đã khô rạc, phơi ra những lườn đá xám ngoét. Vài cây đào dại đang nở những đóa hoa hồng nhạt li ti. Vần dừng bước, khịt khịt mũi nhận ra mùi rượu móc chua chua, ngọt ngòn ngọt từ bếp của căn nhà bên đường. Kể từ khi trốn khỏi trung tâm cai nghiện, Vần vẫn trộm cắp để sống qua ngày, nhưng Vần chỉ có thói quen trộm của người quen, chứ với người lạ thì Vần chưa dám. Vì Vần thường vào nhà người quen một cách đàng hoàng, thấy không có ai ở nhà là trộm, hoặc sơ hở là trộm. Còn nhà lạ, lí do gì để mà vào chứ. Nếu tìm ra được lí do để vào nhà lạ thì có nghĩa là lạ cũng trộm được. Nhà này cũng là nhà Mông thôi mà. Lúc ở trên hang là cơn đói. Thì giờ là cơn khát. Vần khát cái thứ rượu móc đang phả mùi mời gọi từ căn bếp kia.
Vần lững thững đi vào sân. Một ông già ngồi ở cửa đang lấy tay cạy những cái vẩy da chết bám trên ống chân. Ông già này phải có đến tám chục tuổi, chắc tai không còn thính. Vần cất tiếng chào rõ to. Ông già gật gật rồi hỏi:
– Mày tìm ai?
Vần bỗng chở nên thật thà:
– Cháu tìm cái gì cho vào bụng thôi!
Ông già nhìn con ma đói ma khát gày tong teo trước mặt mình như để ước chừng sức lực rồi chỉ vào bếp, nói nhỏ:
– Có bánh ngô và rượu móc đấy!
Vần tỉnh cả người, mở to hai con mắt vốn đã lồi sẵn ra. Vần chắp tay vái ông già mấy cái rồi chui tọt vào bếp. Bánh ngô tuy nguội nhưng vẫn dẻo nguyên và ngọt đậm. Rượu móc thì thôi rồi, khỏi phải kể. Bình thường, khi gặp chiến hữu là người vùng khác, Vần thường khoe thuốc phiện, rượu ngô, thắng cố, tương ớt, thảo quả, tam thất Mường Thàng là đặc sản. Giờ đây, nếu ai hỏi, Vần sẽ nói đặc sản Mường Thàng là bánh ngô nếp và rượu móc. Vần chui ra khỏi bếp, khom người cám ơn ông già. Ông già chỉ tay vào bụng Vần nói:
– Mày để trả con dao của tao vào chỗ cũ!
Vần rùng mình, đi giật lui vào bếp, từ từ móc ra từ thắt lưng con dao nhọn sắc lém đặt lên nóc cái hòm gỗ rồi đi ra. Không nhìn thấy lão già đâu cả, Vần đi một mạch ra cổng.
Nhà Đái rất đông người. Toàn người Mùa Sán. Hình như nhà Đái mất cắp thứ gì đó. Vì Vần nhìn thấy Páo ở trong sân. Vần bỗng nhiên thấy ngại. Vả lại, cái dạ dày đã ních đầy bánh ngô và rượu móc nên ý tưởng đến xin Đái mấy bữa cơm không còn là hay ho lúc này nữa. Trong cái lạnh tê tái của chiều cuối đông, Vần ngửi thấy mùi khói thuốc phiện lởn vởn trong gió. Cái thứ mùi này lạ lắm, nó biến mọi cơn no thành đói, biến mọi cảm giác vui buồn, lo lâu thành một thứ thèm thuồng mãnh liệt. Mấy ngày “ăn” bột trắng, giờ ngửi thấy mùi nhựa, người Vần lại cồn cào, sục sôi nhớ về những năm tháng cũ.
Ngày ấy, việc Vần giấu bố cả cục nhựa bằng nắm đấm ở trên nương để hút dần là chuyện thường tình. Ngày ấy, nhà nhà trồng thuốc phiện, người người hút thuốc phiện, cũng chả bị coi là tội lỗi như bây giờ. Vần bỏ qua nhà Đái, đi thẳng sang nhà Chinh. Chinh lớn tuổi hơn Vần, Chinh trạc tuổi Dìn nhưng Chinh tinh khôn và lanh lợi hơn Dìn rất nhiều. Chinh có hai đời vợ. Vợ trước chết, Chinh lấy em dì làm vợ hai. Nhà Chinh không có ai. Cửa mở toang cho gió lộng. Bếp khép hờ, có độc con mèo mun lượn ra lượn vào, hai mắt xanh lè khi thấy Vần chằng chằng nhìn vào bếp. Tiếng ho từ phía sau khiến Vần giật nảy mình quay lại. Là Chinh. Vần chỉ tay vào nhà, hỏi:
– Sao mà vắng quá thế?
Chinh cười nhạt nhìn điệu bộ thảm hại của Vần mà thở ra.
– Về bao giờ thế?
Vần gãi cái cằm lởm chởm râu:
– Mới chục ngày thôi mà.
Chinh không mời Vần vào nhà mà chỉ xuống nhà Đái.
– Vợ nó vừa chết rồi!
Vần trợn mắt:
– Sao mà chết?
Chinh nhíu mày:
– Sau này mày gặp nó thì nhớ mà hỏi vì sao nó chết, nhá!
Vần quay trở ra. Ngang qua nhà Đái, lác đác đã thấy tiếng khóc.
Vần ngồi thu lu trong xó hang lạnh. Mực nước trong hang cứ đêm đến là dâng lên đến mấy gang tay. Lúc trước Vần đã nấn ná đợi thằng Páo về là sẽ lọt vào nhà Đái hỏi han sự tình, nhưng xem ra thằng Páo đã ngửi thấy mùi gì đó không bình yên nên không chịu về cho. Một đứa vợ mất tích, một đứa vợ chết. Không hiểu rồi đây anh em thằng Chinh sẽ thế nào. Thực tình là Vần không ưa Dó, vợ Dìn cho lắm. Vì cả ngày người đàn bà ấy chả nói lấy một tiếng. Khuôn mặt nhăn nhúm, ánh mắt tối om lúc nào cũng như nghi ngờ người đối diện. Vần cứ về nhà lúc nào là mụ ta cũng lẩn quẩn ở nhà để theo dõi và quan sát. Chả bù cho hai thằng em trai mặt lõ lẹo, người thấp lùn, hai đứa em dâu mụ, đứa nào cũng đẹp, cũng con nhà khá giả cả. Đúng là vợ Đái và vợ Chinh đều rất đẹp. Không có tiền nhiều thì đừng mơ cưới vợ đẹp. Đã có lần mụ nói với Vần như vậy. Mà làm gì ra tiền nhiều? Chưa bao giờ Vần có tiền nhiều đủ để tiêu pha trong một tuần liên tục cả. Thế nên, cả đời này ở một mình là phải rồi.
Trời bên ngoài cửa hang tuy có tối nhưng vẫn có thể định hướng. Vần lấy ba tầu lá móc kết lại thành cái áo khoác ngoài để khoác lên cho đỡ lạnh. Đường về Sín Chải từ miệng hang xuống cũng không khó đi, chủ yếu là qua những thang ruộng trơ gốc rạ mềm mềm vì bị sương gió vò nát. Người Mông Hoa đến đất này đã mấy trăm năm. Nếu như người Tày, Giáy, Nùng Dao đốt nương, lấy dùi chọc lỗ bỏ hạt xuống thì người Mông lại có kinh nghiệm trồng lúa nước. Dù ở tận trên đinh núi cao thì người Mông cũng có phép màu gọi nước về, biết làm ruộng bậc thang để cấy lúa nước. Gần tết, những thang ruộng chưa cày cấy để không cho nắng bừa, mưa ải. Vần lâng lâng bước đi. Nhà Dìn ở đầu bản Són Chải, cách ủy ban xã Ngải Thầu chỉ độ nửa già cây số. Từ ngày bố mẹ Dìn ở luôn trên nương để trồng ngô và chăn thả đàn dê thì Vần cũng ít về nhà thăm bố mẹ, trừ khi có việc gì thật sự quan trọng. Như đêm nay vậy.
Vần đứng ngoài trái nhà, giả tiếng con chim lợn. Phải chục phút sau mới thấy tiếng ựt ựt đáp lại của Dìn. Vần mừng rỡ, chỉ đợi cửa mở là lao vào. Trông thấy Dìn, Vần vội vàng thông báo.
– Vợ thằng Đái chết rồi!
Dìn cụt lủn:
– Biết rồi. Tao không còn gì để bán cả!
Vần không nói gì cả, ngồi xuống ghế sau khi điện bừng sáng lên. Vần nhìn quanh, chỉ có một mình Dìn nên thấy lạ lắm. Dìn bảo:
– Chúng nó đi Mùa Sán hết rồi!
Vần thấy nhẹ nhõm cả người, tuy nhiên lại làm bộ làm tịch hỏi:
– Ông bà chưa về à?
Dìn lại nhấm nhẳn:
– Chưa, mày còn về đây làm gì?
Vần không biết nói thế nào cả bèn chống chế.
– Qua tết em lại xin đi!
Dìn trợn mắt lên:
– Chả ai cho mày ở đến tết cho mày nhiễu cả!
Vần không dám cãi anh nên cứ ngồi lỳ ra đấy. Bất ngờ Dìn lên tiếng;
– Mày định làm gì? Ở đâu từ giờ đến tết, hả?
Vần thú thực:
– Em định đến gặp thằng Đái xin nó một chân nhưng chẳng may gặp lúc vợ nó chết!
Dìn nắm chặt tay dằn nắm đấm vào cái cột nhà mà nói:
– Ngày mai mày lên ủy ban xã gặp cán bộ đi, mày phải quay về trung tâm. Mày tưởng đứa nào nghiện cũng được đi cai như mày hả? Có khối đứa xin đi mà chưa được đi kia.
Vần đứng dậy, tự ái:
– Được rồi, thằng Vần sẽ đi, sẽ không về đây xin xỏ gì nữa. Chết là cùng chứ gì!
Vần ngoay ngoảy bỏ ra ngoài, đi tong tong xuống đường. Vần biết, rét thế này, lại tối mịt mùng, chả ai ra đường làm gì vào giờ này.
Vần đang đi giữa lòng đường vắng thì ánh đèn pin của ai đó rọi vào mắt làm Vần dừng lại, đưa tay che mắt. Vần ngồi thụp xuống và quay đầu bỏ chạy về phía miệng hang. Tiếng quát đanh gọn ngay phía sau:
– Dừng lại!
Vần cắm cổ chạy và bất ngờ vấp một hòn đá mà ngã xuống. Một bàn tay cứng như kìm bóp vào vai Vần cùng giọng nói quen quen:
– Chạy đi đâu hả chú mày?
Vần nhận ra giọng Chinh. Chinh về Sín Chải để làm gì? Sau khi đã ngồi dậy và hoàn hồn, Vần mới nói:
– Cứ tưởng ai..!
Chinh cất giọng thân thiết:
– Chú mày nhát chết. Thế nào? Bị ông Dìn đuổi đi hả? Có việc cần đến chú mày đây. Lúc chú mày về rồi tao cứ nghĩ mãi, dù sao cũng là chỗ anh em, nên cho chú mày một cơ hội.
Nói xong câu ấy thì Chinh kiễng chân, ghé sát vào tai Vần mà thì thào. Vần vừa gật gù vừa run bắn người. Cuối cùng Vần thốt lên:
– Trong hang Đùng Đeng hả? Sao mình không thấy?
Chinh cười gằn.
– Bao nhiêu ngõ ngách, làm sao mà thấy được!
Tiếng cười của Chinh lạnh lẽo quất vào cái đầu đang bế tắc của Vần khiến Vần thấy buốt nhói cả ngực vì những toan tính kì dị của Chinh. Vần đứng dậy. Hai bóng đen nối chân nhau ngược dốc, rẽ vào lối lên hang Đùng Đeng.
Đây là một quần thể hang động lớn mà chỉ những người sinh ra lớn lên ở Ngải Thầu mới tỏ tường mọi đường đi lối lại. Chinh khoác lác là nhắm mắt cũng đi đến cái chỗ hai người cần đến. Cái chỗ mà Chinh bảo Vần đến đó là nơi cất giấu một bí mật mà nửa năm nay thằng Sử và thằng Páo dày công tìm kiếm hòng lập công với cấp trên. Nhưng mà…Chinh này mà đã giấu thì đừng có mơ mà tìm thấy. Vần thoáng hoang mang khi cây đèn pin trên tay Chinh cứ tối dần. Vần cất tiếng:
– Nhưng tại sao lại giao cho tôi việc này?
Chinh im lặng một lúc rồi chỉ cho Vần một cái ngách hang mà phải nghiêng người mới đi lọt. Chinh bảo:
– Thế chẳng phải mày đang cần tiền hay sao? Có thứ ấy trong tay, mày có đòi cả con trâu nó cũng phải bỏ tiền ra chuộc!
Vần hít vào một hơi thật sâu. Mùi lá mục chui vào buồng phổi khiến Vần bật ho. Vần nghiêng người đi theo chỉ dẫn của Chinh. Lúc này Chinh đã thay đôi pin mới vào chiếc đèn và lia những nhát sáng loáng vào những nhũ đá đang rỏ nước xuống lối đi. Khi cả hai đã đi qua khúc hẹp và đến một quãng khá rộng, bằng phẳng. Chinh lia đèn lên cao, Vần đưa mắt nhìn theo ánh đèn thì thấy một phiến đá nhỏ vuông vức trên đầu mình chìa ra từ vách đá, nửa giống như cái tủ gỗ của người Giáy, nửa lại giống cái bàn thờ tổ tiên của người Nùng. Chinh bảo Vần, vì Vần cao hơn:
– Lấy xuống đi, ở trên ấy!
Vần run rẩy đưa cánh tay lên, chạm tay vào một chiếc túi vải tối màu. Trong túi là một vật gì đó vuông vuông tròn tròn không nặng quá, cũng không nhẹ quá. Mang chiếc túi xuống. Chinh lại ra lệnh:
– Ra trước đi!
Vần ôm khư khư chiếc túi vải trước ngực và lại nghiêng người lần từng bước ra. Mồ hôi trán túa ra ròng ròng, hai bàn tay cũng sũng ướt. Khoảng nửa giờ sau thì hai đứa đến cửa hang giếng, nơi thông với Lùng Vai. Chinh chuyển cây đèn vào tay Vần, bảo Vần soi còn hắn dành lấy cái túi và nắm lấy những sợi dây rừng đang lòng thòng buông xuống. Hắn nói hắn lên trước, sau đó Vần lên sau. Vần gật đầu. Chinh lấy răng cắn chặt miệng túi, hai tay nắm những sợi dây và đu người lên, đặt chân vào các hốc đá trên thành hang mà leo lên. Vần vẫn cứ soi. Hơn chục phút sau, Chinh đã lên tới miệng hang và gọi với xuống. Lên đi. Vần cang mồm ngoạm lấy chiếc đèn pin và đu người leo lên. Những hốc đá trơn lạnh, Vần lại không mang dép như Chinh nên càng lên, cửa hang càng rộng, càng thấy khó. Khi nghe tiếng Chinh văng tục phía trên, Vần mới biết là mình đã lên tới nơi.
Vần vừa thở vừa bảo:
– Lần sau không đi đường tắt thế này nữa đâu, chết như chơi! Chinh lấy tay vỗ bồm bộp vào cái túi vải và nói tưng hửng.
– Mang đầu lâu người ta mà đi đường thẳng, gặp tổ tuần tra, ăn nói thế nào?
Vần giật mình. Té ra cái túi mà hắn lấy xuống từ bệ đá và khư khư ôm đi suốt lòng hang là đựng đầu lâu người. Thế sao Chinh nói mình là bảo bối nhỉ? Vần cất giọng chưa hết run:
– Của ai thế?
Chinh thì thào:
– Của bố thằng Lẩu!
Vần thót người.
– Lẩu thầy cúng hả?
Chinh lằn nhằn:
– Cúng bái gì nó, chẳng qua là lợi dụng những đứa mê tín thôi!
Vần chột dạ:
– Sao mày lại có cái đầu? Thế những cái khác đâu?
Chinh thì thào:
– Mày ngu thật, lúc ấy mày trong trại không biết. Tao đi tìm trâu lạc ngoài Sín Chải, nghe người ta nói thấy tiếng mõ trâu trên núi ông Sét, tao lên đấy, lúc vạch đường đi tắt về, thấy bộ xương trong bụi cây, nên nhặt cái đầu, giấu vào hang chơi. Ai ngờ sau này vợ con thằng Đái đi lấy củi phát hiện ra bộ xương không đầu đã báo lên xã. Công an khám nghiệm đã phát hiện ra đó là bộ xương đàn ông và một cái vòng bạc nằm dưới cỏ mục mà thằng Lẩu bảo đó là vòng của bố nó. Mà việc Mo Dính đi nhà bạn cả năm trước rồi không thấy về, ai chả biết, và ai ngờ là chết trên ấy!
Vần gặng hỏi:
– Có thật không?
Chinh lấy chân đạp vào ống chân Vần khiến Vần suýt khụy ngã:
– Điên à, không thật thì cái gì đây?
Chinh dúi cái đầu lâu vào tay Vần và bảo:
– Đêm mai mày đến nhà nó và thỏa thuận cụ thể. Nhớ là cứ đòi hai mươi đồng bạc. Mỗi đứa một nửa. Như thế là ngon nhất mày rồi!
Vần lạc cả giọng:
– Thế đêm nay tao ngủ đâu?
Chinh gật gù.
– Mày không về Mùa Sán ngay được. Em dâu tao chết, nhà tao nhiều người qua lại lắm, mà chị Dó thì không ưa mày, mày ngủ tạm ở đây, tao cho lửa, đốt mà sưởi. Nhớ trông nom cẩn thận, chó tha đi là mất ăn!
Vần giãy nảy.
– Ấy chết, lỡ người Lùng Vài đi nương sớm, họ thấy tao thì sao?
Chinh lại đạp Vần cái nữa đau điếng.
– Mày dở người, tết đến nơi rồi, người ta tắm giặt sạch sẽ để ăn tết, ai thèm đi nương nữa mà gặp mày. Mà trông thấy mày, họ tưởng ma cũng bỏ chạy!
Vần ngần ngừ một lát rồi hỏi:
– Thế từ giờ đến tối mai tao ăn gì để sống?
Chinh hất hàm chỉ ra khoảng không tối mịt mùng trước mặt.
– Mày nướng ngô ăn tạm. Bọn người Nùng giờ này đang ở nhà gói bánh nếp rồi!
Vần vẫn chưa yên tâm:
– Nhỡ nó không giao bạc mà báo công an thì sao?
– Chả sao cả, mày nói là chỉ lừa nó thế để lấy tiền hút hít thôi, vì biết thằng Lẩu vẫn đi tìm đầu bố. Mày cứ giấu kĩ ở đây, sau khi nhận bạc thì dắt nó lên lấy. Nhớ là treo lên cành cây, đừng để dưới đất!
– Thế nhỡ nó không có bạc thì sao?
Chinh gầm lên:
– Nó có, riêng nó cúng cho vợ thằng Đái đã mười đồng rồi. Cúng mà người vẫn chết, tao phải đòi lại bạc cho thằng Đái chứ? Mày không muốn giúp thằng Đái à? Nó còn đòi tao mười đồng để cúng cho vợ tao về đấy, nhưng tao không tin!
Chinh về rồi, còn lại mình Vần và đống lửa mới nhen lên không đủ sưởi ấm đôi chân tê dại đã lội bì bõm suốt trong hang Đùng Đeng trước đó. Ngày bé, Vần nghe bà nội kể về sự tích hang Đùng Đeng và đất Mường Thàng hay lắm nhưng giờ quên nhiều rồi. Để nhớ lại thì phải lúc nào đó thật rảnh rỗi. Chứ giờ này, đầu Vần không nghĩ được điều gì khác ngoài việc đặt câu hỏi về Chinh. “Có thật là Chinh nhặt được cái đầu lâu như anh ta kể không?”. Và nếu như thằng Lẩu không tin và không giao bạc cho Vần thì phải làm thế nào với cái đầu lâu này? Vần cứ lơ mơ thế rồi nằm vật ra cạnh đống lửa, ngủ thiếp đi.
Vần mở mắt ra thì đã thấy bình minh le lói sáng ngay trên đỉnh núi Plâu. Gọi là núi Plâu là vì núi có bốn đỉnh, hằng năm, cứ vào mùa sấm sét, sét đánh ngọn núi mấy lần khiến đá vỡ toang hoác và cây cối bật cả gốc rễ lên. Đồn rằng đó là ngọn núi thiêng nhất trong vùng Mường Thàng này. Dân Sín Chải còn nói rằng, bọn tội phạm vùng khác đến đất này, trong lúc chờ cơ hội để chuồn sang biên giới, chẳng may mà đi lạc lên núi Plâu thì sớm muộn cũng bị phát giác và công an bắt giữ. Vì một sợi khói bay lên trên núi cũng khiến dân vùng Sín Chải và Mùa Sán nhìn thấy. Lâu lắm rồi, kể từ khi sa vào con đường nghiện ngập rồi sinh ra trộm cắp vặt, Vần không dám mon men lên núi Plâu nữa. Chợt nhìn lên cái trạc cây bên cạnh, mắt đập vào cái túi đựng bảo bối, mắt Vần hoa lên, tim đập thình thịch. Vần gỡ cái túi xuống, run run mở miệng túi ra. Cái đầu lâu vàng óng và hai hàm răng nhe ra như cười khiến Vần buông rơi cái túi, mắt nhắm nghiền lại sợ hãi. Ma sui quỷ khiến thế nào mà Vần lại nhận lời làm cái việc này. Nhưng hình như, hàm răng ấy, có gì không ổn thì phải. Vần chỉ thoáng nghĩ thế thôi, nhưng không dám xem lại lần nữa.
Sau một ngày vật vã vì đói thuốc, Vần gần như tê liệt mọi cảm giác. Nhìn thấy cái túi đựng sọ người, Vần nhặt hòn đá lên, vung tay định ghè vỡ nhưng lại kìm được. Lê những bước chân nặng nhọc qua một nương ngô và một nương dứa của người Nùng, bàn chân Vần chạm vào đất Mùa Sán. Mà đúng hơn phải là đá Mùa Sán. Vì Mùa Sán toàn đá là đá. Chỗ nào có đất là chỗ ấy có cây mọc lên. Nhà Lẩu thì Vần có biết trong vài lần theo Dìn đến đó. Trước nhà nó nghèo lắm. Giờ thì có của rồi. Ngoài vườn có trâu, có ngựa, trong nhà có ngô cho vay. Nó biết cúng nên mới khấm khá thế. Chứ trông vào hạt ngô, hạt lúa vùng này, thì còn lâu mới khá được. Trời chưa thật tối thì Vần đã đứng ở chân cầu thang nhà Lẩu.
Trông thấy Vần, Lẩu chạy xuống, văn vẻ.
– Con gió nào cuốn khách quý tới cửa nhà mình thế?
Vần cười, nụ cười gượng meo méo:
– Gió trong thung lũng Mường Thàng này thôi.
Vần theo Lẩu lên sàn nhà, ngồi xuống cái ghế mây nhà Lẩu, duỗi dài hai cái chân và ống quần bê bết hoa cỏ, bùn đất ra, nói thản nhiên:
– Tôi có báu vật mà ông đang tìm kiếm đấy, nếu ông cho bạc đủ với công sức mà tôi đã tìm thấy nó thì nó sẽ về tay ông!
– Báu vật à? Mình không có tìm báu vật nào cả!
Lẩu lắc đầu, cái đầu tròn như quả bưởi và mái tóc mới cắt khá ngắn. Vần đứng dậy:
– Vậy thì tôi về đây!
Lẩu đứng dậy theo, nài nỉ:
– Ấy chết, ở lại ăn với nhau bát rượu đã. Nhà có rượu tam giác mạch ngon lắm!
Vần thoáng nghĩ, tay này đi cúng thì thiếu gì của ngon vật lạ trong thiên hạ cung biếu, chứ rượu tam giác mạch thì ăn thua gì. Vần lại ngồi xuống ghế. Lẩu quát, giọng chắc nịch:
– Chúng bay đâu, ra ngoài cho tao nói chuyện với khách!
Sau câu ấy, mấy đứa con gái choai choai chạy xuống dưới nhà đất. Lẩu thì thào:
– Có thật anh biết thứ tôi tìm không?
Vần khẳng định.
– Thật mà!
Người đàn ông bốn mươi nôn nóng:
– “Bờ chờ” (bao nhiêu)?
Vần nói tròn trĩnh, rành rọt:
– Hai mươi đồng!
Lẩu xoa tay vào nhau tỏ ý “đắt quá” nhưng rồi vẫn nói:
– Thế ở đâu?
Vần hờ hững:
– Gần đây thôi!
Lẩu vội đứng dậy:
– Ừ, chú mày lên khe Pá trước đi, tôi lấy bạc rồi lên sau!
Vần đứng dậy, vừa đi vừa ngáp. Bước cao bước thấp về phía đỉnh khe Pá, Vần gần như kiệt sức thì một ánh đèn pin quét ngang mặt. Vần khụy xuống, bọt mép sòi ra, hai chân tê cứng và bàn tay như có ai lấy búa đập nát từng ngón. Vần cảm nhận được hơi lạnh của đất dưới lưng, rồi đến hơi nóng của lửa trước mặt…Cứ như thế, những cảm giác đau đớn cứ luân phiên đến rồi đi hành hạ một cơ thể đã tận cùng suy nhược.
Vần mở mắt thì thấy mình nằm trên một cái đệm lau đặt gần bếp, than vẫn còn ấm. Bếp nhà ai đây? Vần nhỏm ngồi dậy thì bóng một người đi từ ngoài vào phía cửa bếp. Là Páo. Vần rụng rời chân tay.
– Sau khi giải quyết những rắc rối do anh gây ra. Chúng tôi sẽ liên hệ để gia đình anh đưa anh trở lại trung tâm. Tình trạng sức khỏe của anh hiện rất xấu!
Tiếng nói từ phía ngoài khiến Vần ngồi dính vào đệm. Đó là tiếng Sử. Sau Sử là Dìn và một người anh em trong họ. Vần thoáng nghĩ đến Lẩu và cái đầu lâu giấu ở Lùng Vai nhưng không kịp nữa rồi. Vần bỗng thấy nghẹn trong cổ khi nghĩ đến Dìn. Hẳn là Dìn đã nói cho Sử biết về sự trở về của Vần. Anh em mà lại bán đứng nhau cho người dưng, thế là sao? Dìn thật ngô nghê khi nghĩ rằng Dìn với Sử còn có thể là bạn. Bạn mà đẩy nhau vào tù, đẩy em của bạn vào trại cai nghiện à? Một công an xã lại có thể làm bạn với thằng có tiền án hay sao? Dìn ơi là Dìn, ăn gì mà mông muội. Cũng tại Vần, cùng đường chả còn biết trông cậy vào ai nên cứ bám lấy Dìn nhằng nhẵng như cái bóng. Dìn nói không còn gì để bán nhưng Vần biết, thấy Vần chết, Dìn đâu có thể làm ngơ? Nhất là khi bố mẹ Dìn còn sống. Ông bà chỉ cần ho một cái. “Anh em mày cùng trong ruột tao chui ra mà không thương nhau thì tao đau lắm”. Thế là Dìn phải xuống nước thôi. Hôm Dìn bán con chó mực lấy tiền cho Vần, Vần cũng biết. Con chó khôn lắm đấy. Lúc Dìn đi tù, nó chỉ bằng cái chai rượu. Dìn đi tù ba năm, quay về nó vẫn nhận ra Dìn. Cả bản xa lánh Dìn thì nó vẫn sán sít lại gần Dìn, vẫn mơn trớn, âu yếm. Nhưng dù sao người vẫn còn hơn chó chứ. Chắc vừa rồi, khi Vần lả đi, Dìn cũng đau lòng lắm…
Vần mơ màng được có từng ấy rồi lại thiếp đi. Hình như Vần được nằm trên một cái cáng bốn người khiêng để đưa đi đâu thì phải. Nếu là đưa đi chôn thì phải đông hơn và phải được thay quần áo mới chứ. Chắc là Vần chưa chết. Sống vật vã, vô nghĩa thế này từ bao nhiêu năm rồi, mà lạ thay, chưa bao giờ Vần muốn chết cả. Vần vẫn thèm được sống…