Mẹ Sử già và quắt như cái vỏ đỗ gặp nắng. Bà ngồi ngoài sân, tỉ mỉ bóc từng nắm là ngô khô ra khỏi thân cây và bó lại cẩn thận hòng cất đi cho trâu ăn vụ rét này. Nhác trông thấy Sử xỏ vào chân đôi ủng nhựa màu tím, bà vội vàng khuyên can:
– Mày đi nhiều quá. Xã có trả lương cho cái chân mày đi suốt ngày, cái đầu mày nghĩ suốt đêm không?
Sử mỉm cười:
– Nả già quá rồi, toàn nghĩ đâu đâu.
Vợ Sử cầm cái mũ chàm chạy theo, đưa cho chồng. Sử cuộn cái mũ, bỏ luôn vào túi thổ cẩm đeo bên nách và đi xuống đường, khởi động con xe máy dựng dưới gốc trám và đi về hướng ủy ban xã.
Gần đến ủy ban xã thì Sử gặp một đám đông đang xúm xít quanh một cái xe máy đổ. Chủ nhân của chiếc xe máy là một cô gái Dao còn rất trẻ, gương mặt đau đớn đang ngồi cạnh đó. Sử dừng xe, bước xuống hỏi có làm sao không? Cô ta lắc đầu. Chợt thấy cái xe máy khá mới, lại chưa có biển số. Sử dựng chiếc xe dậy và dắt vào rìa đường. Khuôn mặt cô gái với những đường nét vô cùng quen thuộc khiến Sử cứ ngợ ngợ, cuối cùng Sử bật lên tiếng hỏi:
– Có phải Mắn ở Tả Chải không?
Cô gái giật mình, đứng dậy, chân còn tập tễnh:
– Đúng rồi, cháu ở Tả Chải đây.
Sử nhẹ nhàng vì không muốn làm cô gái sợ:
– Thế cháu về bao giờ?
Mắn nhìn đám đông rực rỡ váy áo vây quanh mà ngại ngùng nên không nói gì. Cô leo lên xe, nổ máy và chậm chậm đi về phía thôn Tả Chải. Sử vội vàng phóng theo xe.
Tả Chải là một trong ba thôn bản của Ngải Thầu có người Dao đỏ sinh sống. Và đây cũng là hai thôn dẫn đầu cả xã về số hộ giàu, hộ khá do trồng thảo quả, thuốc lá, nấu rượu thóc và nuôi ong mật. Cách đây năm sáu năm, trong nhiều cuộc gặp mặt, ông trưởng ban văn hóa xã là người Mông, thường mát mẻ nói với Sử rằng, yếu tố quan trọng nhất khiến người Tả Chải giầu là vì họ biết cách xuất khẩu con gái sang Trung Quốc mà các cơ quan chức năng thường là bất lực. Vì các cô có chân các cô tự đi và lôi kéo nhau đi. Nói là đi làm ăn thì cấm đoán sao được. Năm trước, trong khi tập huấn trên huyện, Sử cũng được nghe cấp trên nhắc nhở nhiều về chuyện này và còn biết rằng trên cả huyện có hơn ba mươi trường hợp như vậy thì nguyên xã của Sử có chín trường hợp. Nhiều gia đình tan nát, nhiều đứa con mất mẹ, chồng mất vợ. Nhà Mắn có bốn chị em gái, đi luôn cả bốn. Gặp Mắn lúc này là cơ hội để Sử biết thêm về tình hình. Vì thế, tạm thời gác lại chuyện thằng Vần và mấy vụ trộm cắp vặt lại đã.
Bố Mắn là người đàn ông trạc năm mươi, bị cụt một tay do đi chặt gỗ bị tai nạn. Ông đang hút thuốc lào trong bếp thì thấy Mắn tập tễnh bước vào, theo sau là Trưởng công an xã. Vốn không ưa người Mông nên dẫu Sử có là cán bộ thì ông cũng không thấy thiện cảm hơn. Nhất là cái gia cảnh nhà ông lúc này. Bốn đứa con gái thì cả bốn đứa bỏ chồng đi sang bên kia làm ăn, để lại năm đứa cháu ngoại cho ông bà nuôi, mãi tận vừa rồi mới có hai đứa được bên nội đón đi.
Nhà ông, nhìn từ cửa vào, giống như một cái kho để đồ. Lối vào nhà đi bằng cửa trái. Gian nhà đầu tiên lỉnh kỉnh kê ba cái máy khâu cũ và quần áo tùng tằng vắt khắp nơi. Góc trong của gian nhà là hai cái giường kê song song với hai cái màn buông kín quanh năm suốt tháng không bao giờ vắt lên hay mang ra suối giặt rũ. Gian thứ hai, cũng là gian giữa nhà thì một nửa để bàn thờ, một nửa kê cái giường để ông ngủ. Trên nóc giường ông là một căn gác xép để ngô lúa và hạt giống. Gian thứ ba là nơi để nấu ăn, và tiếp khách. Nói chung là bếp rất rộng. Những cái ghế gỗ, cái cao cái thấp để xung quanh bếp lửa và cạnh cái cối xay ngô.
Ông Păn mời Sử ngồi xuống cái ghế rồi giơ cao cái ấm nhôm, rót đầy một cốc nước lá màu vàng nhạt mời Sử. Sử nói tiếng Dao rất tốt, nhưng ông Păn vẫn ý tứ nói với Sử bằng tiếng phổ thông cho lịch sự. Sử nói qua về việc gặp Mắn ngã ngoài đường. Ông Păn thở dài:
– Nó về thăm con mấy hôm rồi lại đi thôi mà, vừa mới học đi xe thôi, đường lại xấu quá.
Ngồi trong bếp nhà người Dao mà không đốt lửa cũng không khác chi ngồi giữa lòng suối. Vì gió sục sạo khắp ba gian nhà lạnh lắm. Cái cửa chính nhìn ra mặt một chiếc ao tù nhỏ dù chỉ hé mở nhưng cũng đủ để gió luồn vào. Cả cái bếp không có nổi lấy một đòm củi, thế này không lạnh thì sao. Ông Păn giải thích:
– Năm nay rét sớm, lại bận bịu với đám trẻ con nên không dự trữ được củi nên bà vợ ông phải chạy củi từng bữa. Bà vào rừng rồi, chưa thấy về. Chắc lấy tham để dành đun tết.
Ông chỉ ra gian nhà ngoài và bảo:
– Đứa bé ngủ ở đấy, hai đứa lớn đi học, thế mà loanh quanh hết ngày.
Mắn ăn mặc như gái Kinh, quần bò, áo dạ đỏ choàng qua gối. Cô đứng để nói chuyện với Sử vì cái giầy cao gót ở chân không cho cô ngồi xuống những cái ghế con vốn là những mẩu gỗ thừa khi làm nhà mà nói chuyện. Mắn nói rất hồn nhiên rằng:
– Cán bộ cứ nói thế. Ai mà chả thích ăn ngon, mặc đẹp và được chiều chuộng khi còn trẻ. Già rồi thì chết đâu chả được mà sợ.
Sử bảo rằng Mắn đã lấy chồng mà còn ngang nhiên đi ăn ở với người đàn ông khác là phạm luật. Mắn không biết luật là gì cả, chỉ biết là mười lăm tuổi đã lấy chồng, mười sáu đẻ con, mười bảy bị đuổi về nhà mẹ đẻ. Lấy chồng không đăng kí kết hôn nên ở với nhau thì ở, không ở với nhau nữa thì thôi.
– Đến như chủ tịch xã Ngải Thầu hồi trước còn đi ngủ với người yêu ở bản bên về bị vợ và con trai đóng cửa không cho vào nhà, uất quá còn ra nương ăn lá ngón chết đấy.
Mắn còn dẫn chứng ra một lô lốc những thứ mà Sử gọi là luật. Ông Păn phụ họa với con gái:
– Cán bộ chẳng qua cũng chỉ là đứa chăm chỉ, khỏe mạnh và nhàn rỗi để nhà nước sai bảo thôi, cán bộ mà cứ đưa hết cán bộ này đến cán bộ kia về để bắt bớ dân là chết không có đất chôn đâu.
Mắn còn thản nhiên nghe điện thoại của khách hàng và trao đổi với họ bằng tiếng Trung ngay trước mắt Sử về một thỏa thuận gì đó liên quan đến trẻ con mà Sử lõm bõm nghe được. Sử đứng dậy chào về trong cảm giác ê chề, ngượng ngùng với chính bản thân mình.
Ủy ban xã Ngải Thầu là dãy nhà xây cấp bốn gồm có năm gian phòng nằm trên lưng núi đá với con đường đi lên quanh co vì phải né đá to và trải đá nhỏ lổn nhổn. Sau mỗi trận mưa nước lại xói đi một ít. Nhiều chỗ nền đường trơ ra lớp đất thịt màu đỏ, nắng thì đỡ, chứ mưa thì nhầy nhụa bẩn thỉu. Người đợi Sử ở ủy ban xã là Páo. Trước Páo là công an viên của xã, sau những thành tích trong đợt phát hiện, truy bắt tên tội phạm trốn nã ở Láo Tả, Páo được cất nhắc lên Phó trưởng công an xã. Tuy Páo không có lương như Sử và khoản trợ cấp cũng không cao nhưng Páo là người nhiệt tình, tận tụy với công việc. Đặc biệt, giống như Sử, Páo thuộc địa hình Mường Thàng như lòng bàn tay. Páo có khuôn mặt vuông, trán cao, nhưng tóc vàng hoe. Páo có dáng người cao lớn, chắc khỏe, đôi mắt một mí xếch khá lì lợm.
Thấy Sử về, Páo móc từ túi thổ cẩm đeo bên người ra mấy tờ đơn viết tay nguệch ngoạc. Sử đọc xong và hiểu ra câu chuyện. Gần đây, Ngải Thầu liên tục xảy ra các vụ trộm cắp làm bà con bất an. Họ nghi ngờ việc thằng Vần, em trai Dìn trốn trại cai nghiện về lại tiếp tục hoành hành. Páo kéo ghế ngồi trước mặt Sử, giọng sốt ruột.
– Phải xin lệnh cấp trên bắt nó đi thôi. Chứ tết đến nơi rồi!
Sử điềm tĩnh, giơ tay lên:
– Không nên vội, dạo này có quá nhiều việc, huyện chưa thể cử người tăng cường cho ta ngay được, với lại, có việc còn quan trọng hơn!
Mắt Páo lóe sáng:
– Có việc gì vậy?
Chính ánh mắt nôn nóng của Páo nhìn xói vào Sử khiến Sử trở nên thận trọng:
– Thì vẫn chuyện bộ xương trên núi Plâu ấy, cả chuyện vợ Chinh bị mất tích nữa.
Páo thở phào:
– Vụ Plâu chìm rồi, có mỗi bộ xương khô thì biết đằng nào mà lần, may mà còn có người nhận!
Sử nhếch mép:
– Nhưng bộ xương ấy có tên, có tuổi, có gia đình và có quyền của một con người!
Páo trợn mắt, ngạc nhiên:
– Này nhé, kể từ khi ra tỉnh tập huấn về, tôi thấy anh ăn nói không giống người Mông nữa rồi.
Sử gật đầu:
– Nhưng suy nghĩ vẫn như người Mông thôi.
Páo lắc đầu:
– Suy cho cùng, anh em ta chỉ là một thứ công cụ, việc thì làm không hết, toàn việc vụn vặt, không tên. Việc nọ đè lên việc kia, nhiều việc khó khăn, nguy hiểm. Nhưng quyền lợi thì ít ỏi, vì anh em ta đâu phải là lực lượng chính thức của ngành.
Sử cầm mấy lá đơn, kẹp vào cuốn sổ nhỏ và nói nhỏ:
– Cậu đừng nghe người khác gièm pha. Đây là công việc, là trách nhiệm mà chúng ta tự nguyện nhận lấy. Chúng ta làm những việc này vì ai? Nếu không phải vì chính sự bình yên cho bà con Ngải Thầu ta trong đó có họ tộc, anh em bạn bè, con cái, gia đình ta?
Páo im lặng. Bao giờ Páo cũng biết dừng lại đúng lúc một cách đầy nhẫn nhịn.
Páo về rồi, Sử ngồi ngây cả người. Mười năm ở cương vị Trưởng công an xã, Sử đã nếm trải bao nhiêu cảm xúc vui buồn, cay đắng. Vui là khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được cấp trên khen ngợi, được bà con nhân dân tin tưởng. Buồn là khi niềm tin cứ bị mai một dần, vì những kẻ chống phá chính quyền ngày càng tinh vi hơn và mối quan hệ giữa những con người, ngay kể cả máu mủ, thân tộc cũng ngày càng lỏng lẻo. Rất nhiều lần bố mẹ Sử khuyên Sử xin nghỉ việc. Sau cái vụ dẫn đường đưa công an huyện bắt tên tội phạm trốn nã ở Láo Tả mà anh bị thương vào đầu, vợ anh một mực đòi anh nghỉ việc nhưng anh vẫn còn muốn đi tiếp con đường anh đã chọn. Nhiều lúc, đối tượng mà Sử quản lý, theo dõi, tiếp cận lại chính là bạn, là bà con họ hàng của Sử. Chỉ một chút mềm lòng, nể nang là mọi việc đi vào bế tắc hoặc gây rắc rối lớn. Sau cái chết của ông thầy cúng người Mông trên núi Plâu, và đặc biệt là sự mất tích của Mỷ, Sử linh cảm thấy một điều gì đó đã và đang ngấm ngầm diễn ra ngay tại Ngải Thầu này. Dìn là người thế nào? Con người ta, xấu hay tốt chỉ cách nhau một lằn ranh mỏng manh. Dìn muốn tốt nhưng với cái lí lịch đã bị Dìn tự tay bôi nhọ liệu Dìn có đủ tự tin và bản lĩnh mà vượt qua mọi cạm bẫy? Dìn là bạn Sử. Chính quyền xã biết điều ấy. Páo là người thế nào? Thào Chớ là người thế nào? Sử có quyền nghi ngờ năng lực của bản thân mình nhưng không có quyền nghi ngờ đồng đội và đồng bào của mình. Nỗi buồn giống như những thứ hạt lương thực được lên men, cứ ngấm sâu vào từng mạch máu của người thưởng thức khiến mặt Sử đỏ lên như người say.
Năm nào cũng vậy, cứ đến cuối năm là công việc chất chồng, dồn ứ lại. Có những ngày Sử đến ủy ban xã, dân đã túm đen túm đỏ đợi để kiện cáo nhau chuyện chăn thả gia súc, chuyện đất cát, chuyện vợ chồng đánh nhau, chuyện vay nợ, chuyện mượn nương, mượn ruộng rồi. Dù là đã chia nhỏ nhóm người và làm việc lần lượt với từng bên nhưng họ vẫn cứ chen lấn, la ó và tranh nhau nói, ai cũng giành phần đúng. Có những ngày làm việc kéo dài từ bảy giờ sáng đến tận mười hai giờ đêm. Có những ngày nghỉ, dân kéo đến tận nhà Sử để yêu cầu cán bộ phải phân giải đúng sai. Họ mặc nhiên nghĩ rằng Sử và cơ quan công an xã là đại diện cho pháp lý, cho lẽ phải, cho công bằng mà không biết rằng có những việc mà công an xã không có hoặc không đủ thẩm quyền giải quyết…Trong khi đó, chính quyền xã bỏ lỏng quản lý và nhiều lần thoái thác trách nhiệm, ỷ lại cho công an.
Sử đang suy nghĩ miên man thì chợt thấy các phòng ban bên cạnh đã lần lượt khóa cửa ra về. Sử đứng dậy, bước ra thềm, hỏi với theo ông trưởng ban văn hóa xã người Dao:
– Này bác, sao hôm nay tất cả về sớm thế?
Ông kia nheo nheo mắt, tay chỉnh cái vạt áo khoác dạ dầy cộp nhìn Sử lạ lẫm:
– Ơ hay, cũng bốn giờ rồi. Thế không đi ông Táo nhà tay Phương à? Nó mời tất cả mà. Nó giết lợn đấy!
Sử sững người. Ra thế, người Mông, người Dao ở đây không có tục cúng ông Công ông Táo ngày hai ba tháng chạp nhưng trong ủy ban có tay Phương là cán bộ địa chính xã là người Kinh. Nhà nó tận ngoài thị trấn. Mười mấy cây số, đường xá thì không ra làm sao. Không đi thì nó khinh, mà đi thì…Sử chợt nghĩ ra cái việc định làm nên bảo tay trưởng ban văn hóa:
– Bác cứ đi thôi, tôi có việc bận rồi.
Ông văn hóa nhìn Sử cười nhạt, như thể đi guốc trong bụng nhau rồi. Tính gì cái thằng tham công tiếc việc, mà toàn việc thiên hạ mới điên chứ.
Tay trưởng ban văn hóa vừa đi thì một toán người Dao dưới bản Na Cồ kéo lên. Người đàn ông lớn tuổi nhất trạc sáu mươi vừa thở vừa reo lên đứt quãng.
– May quá…có cán bộ ở đây!
Không đợi Sử nói câu nào, cả ba người đàn ông và bốn người đàn bà ùa vào phòng làm việc của Sử và tranh nhau trình bày. Người đàn bà trẻ nhất, trạc tuổi Sử, đôi mắt dài lanh lợi nằm dưới đôi lông mày tỉa nhỏ như sợi chỉ cong vút vừa nói vừa liếc người đàn ông già nhất:
– Mình là con dâu nó, vợ chồng mình ở riêng lâu rồi, lợn gà dê ngựa đều nuôi riêng, hôm qua vợ chồng mình đi nương, nó tự tiện sang bắt hai con gà mái mổ thịt tiếp khách.
Người đàn ông già nhất giơ tay, ngắt lời cô con dâu:
– Láo nào, hai con gà ấy là mẹ chúng mày gửi từ lúc bằng nắm tay, chứ nào tao có trộm…
Người đàn ông bốn mươi lại giơ tay, cắt ngang ông bố.
– Hai con gà bố mẹ gửi đã ốm chết lâu rồi…
Sử sốt ruột ngồi nghe và cuối cùng lên tiếng hỏi ông già người Dao:
– Nói tóm lại là khi bác bắt hai con gà mái của con trai và con dâu để thịt bác có biết chính xác nó là hai con gà mà một năm trước bác đem gửi không?
Ông kia ngẩn người:
– Tôi cũng không biết, nhưng mà chúng nó là con, ở riêng ra tôi cho vợ chồng nó cả con trâu, cả chục bao ngô không tiếc, giờ lấy hai con gà mổ để tiếp thông gia mà chúng nó làm ầm lên.
Sử nhìn ông già ôn tồn:
– Bác lấy của các con dù một quả trứng gà thì cũng nên hỏi một câu. Nếu bác hỏi trước, tôi nghĩ anh chị ấy đâu có hẹp hòi gì.
Quay sang hai vợ chồng người con, Sử bảo:
– Thôi, cũng chẳng qua là trong lúc bí bách, nhà có khách mà không còn gì để tiếp, bố anh đã trót như vậy, mà cũng là tiếp khách quý, anh chị cố chấp làm gì nữa. Hai con gà giá trị thật đấy, nhưng làm sao sánh với tình cảm gia đình cha con.
Chị con dâu ngồi im. Bà mẹ chồng cũng ngồi im. Chỉ có anh con trai khẽ chìa tay ra chạm vào tay ông bố và nói:
– Thôi chúng ta về thôi, tối quá rồi!
Tất cả lục đục đứng dậy, kéo nhau đi về. Chả ai nói được câu cám ơn. Mà Sử cũng quen với những việc như thế rồi.
Sử về đến nhà thì trời cũng nhá nhem tối. Thằng con trai mười lăm tuổi nhà Sử đang tay kìm, tay tô vít loay hoay với cái bảng điện cũ, trông thấy Sử thì nó chào ngượng nghịu:
– Bố về muộn thế!
Có vẻ bài tập vật lý ở trường không dễ như anh chàng nghĩ. Sử không nói gì cả, treo cái mũ bảo hiểm lên cột nhà, nhìn quanh, lại mất điện. Nhà hơi văng vắng. Bà nội thằng bé đang ngồi vẽ ngô ngoài hè đưa tay dụi mắt rồi nói với vào:
– Vợ mày đau bụng từ trưa đấy!
Sử đi vào buồng. Căn buồng tối thui. Nhà Mông, nhà nào mà chẳng tối như thế. Nhất là buồng đàn bà con gái. Sử ngồi xuống cạnh giường, hỏi khẽ:
– Đau ở đâu?
Vợ Sử không nói gì, có vẻ tự ái. Tiếng bà mẹ già lại vọng vào.
– Đã bảo là đau bụng mà!
Sử đặt tay lên bụng vợ. Lần này thì anh hỏi nhẹ nhàng hơn:
– Thế đau lâu chưa?
Vợ Sử im phăng phắc. Giận rồi đây. Bà mẹ già chống gối đứng dậy, đi vào cửa buồng, nói tướng.
– Đau từ trưa rồi!
Thằng con trai thấy bà nói thế thì hùa theo:
– Sao bố không hỏi mẹ có đau lắm không? Đã uống thuốc chưa hay ăn gì chưa. Bố kém thật.
Sử đưa tay gãi tai. Đúng là kém thật. Sử đi ra ngoài, đốt cây đèn dầu mang vào buồng, để lên chốc cái bàn gỗ nhỏ. Chứ đợi điện thì đến bao giờ.
Vợ Sử nằm co như con tôm nướng. Sử đưa tay sờ lên trán vợ. Trán cô ấy lạnh toát và nhớp nháp mồ hôi. Chắc là vừa qua cơn nóng. Đau bụng gió đây mà.
– Thế đã cạo gió chưa?
Hỏi thế thôi, chứ Sử biết, có ai cạo mà cạo. Mẹ Sử thì mắt mờ tay run, hai thằng con trai thì…Mà đứa bé đi đâu còn chưa trông thấy. Sử sai thằng lớn đi đào gừng. Rồi tự anh đứng dậy lấy rượu đi đun nóng.
Sau khi cạo gió xong thì ăn mì nóng. Chắc là ổn ngay thôi. Sử ngồi thừ trên ghế, đầu không nguôi nghĩ đến mớ đơn từ và những lời nói của Páo. Tiếng mẹ Sử như trách móc.
– Anh có làm việc chung thì cũng phải bớt ra chút thời gian mà xem vợ con chứ.
Sử không dám có ý kiến gì. Mấy hôm trước, trong bữa ăn, vợ Sử còn bóng gió chuyện nhà nọ nhà kia ở Sín Chải có năm tạ thảo quả đem bán được mấy chục triệu đồng. Sử biết vợ anh nhắc khéo. Chả có người đàn bà Mông nào lại không muốn sớm sớm cùng chồng ra nương, tối tối cùng về và ngày phiên thì thong dong cùng nhau tới chợ mua mua bán bán cả. Nhà có năm người thì mẹ anh và vợ anh không có được cái sức khỏe như người ta, hai đứa con thì học tận trên huyện, chỉ cuối tuần mới về nhà thế này. Ngoài việc trên xã, Sử cũng như bao nhiêu người đàn ông trụ cột khác, cũng cày, bừa, trồng cấy, gặt hái. Vụ rét năm trước, cả ba con trâu lăn đùng ra chết rét, bán vớt vát đủ tiền mua mấy con dê. Giờ muốn cày phải mượn trâu của em chú. Mà cày trăng, bừa trăng thôi. Chứ ban ngày làm gì hở ra phút nào. Giá hôm ấy, khi trời đột ngột trở lạnh, Sử đi rừng lùa trâu về, sưởi ấm cho nó thì đâu đến nỗi. Đằng này, Sử mải giải quyết việc chung. Việc đánh đấm cãi lộn của mấy hộ dân tranh chấp nương ruộng ở Lùng Vài. Về đến nhà thì đã khuya. Sáng ra, lên rừng, thấy sương muối phủ trắng, một con trâu bé đã chết, hai con trâu to sưng phù chân nằm ngắc ngoải. Vợ Sử tiếc đàn trâu, ốm đứng ốm ngồi cả nửa năm. Sau vụ ấy, chủ tịch xã động viên Sử, chú và tổ hòa giải không có mặt kịp thời thì hẳn là có đứa mất mạng. Thế đấy, cái đất rừng, đất núi, ngày xưa cho nhau, biếu nhau cả khoảnh, cả vạt, chả sao, mà giờ thì có vài cây keo trồng lên đất của nhau thôi, cũng to chuyện. Vấn đề không phải chỉ là đất, là cây, mà còn là người. Người Dao và người Mông ở Lùng Vài cứ kình nhau đến lạ.
Tổ hòa giải ở Lùng Vài có ba người. Một công an viên người Dao, một cán bộ đoàn người Mông và một chị tổ trưởng phụ nữ cũng người Dao. Tay cán bộ đoàn còn ít tuổi, chưa đủ kinh nghiệm mà đấu lý với những bậc bạc râu, bạc tóc. Chị cán bộ phụ nữ thì nghe đâu cứ mỗi lần đi hòa giải việc làng bản về lại bị chồng nện cho một trận nên đòi rút khỏi tổ mấy phen. Còn lại anh công an viên, thì cứ nhác thấy mặt là bà con nhao nhao phản đối, rằng việc này để trưởng bản giải quyết, không phải việc của công an. Mà trưởng bản Lùng Vài hay nhiều bản khác ở Ngải Thầu này là những tay ba phải. Lúc nghiêng bên này, khi ngả bên kia, chính kiến không rõ ràng, thậm chí còn đổ dầu vào lửa làm cho hiềm khích dân tộc ngày một sâu sắc. Thế đấy, nên việc tí ti con mò bỗng chốc biến thành con trâu. Sử và tổ công an không kịp thời có mặt thì dao kia, búa kia, gậy gộc kia sẵn sàng lăn xả vào nhau mà trống mái. Lẽ phải bao giờ cũng thuộc về kẻ mạnh. Đó là thông điệp ngầm ở cái xứ sở này, nơi chủ tịch xã và khá nhiều chức danh khác chủ yếu là được tuyển dụng tại chỗ, trình độ, năng lực thì hạn chế trong khi đòi hỏi về công việc lại quá lớn. Đường đường là một xã vùng biên có ba bản giáp ranh với quốc gia khác nhưng lực lượng cán bộ có năng lực lại rất ít. Biết trách ai? Những gì Sử học được, tiếp thu được qua những tháng năm phục vụ trong quân ngũ và những lần đi tập huấn thì đã chia sẻ với các anh em cạn cả rồi.
Mới đây, theo chính sách hỗ trợ mới, công an viên ở Ngải Thầu được nhận thêm gần hai trăm ngàn phụ cấp một tháng, vậy là hơn bảy trăm ngàn. Có bõ bèn gì đâu? Ngay như Páo, việc chung cuốn đi như lốc cuốn, việc nhà cũng trĩu nặng hai vai mà một tháng Páo cũng chỉ có hơn triệu bạc. Đến như thằng Dìn vừa ra tù, có người thuê nó ra thị trấn Mường Thàng phụ trách nồi thắng cố, hứa trả nó ba triệu sau khi đã ăn no, uống say, mặc ấm, lại chả phải lặn lội, gió sương, chẳng phải mặt dày mày mỏng với bà con. Mà nó bảo xa vợ nó không thèm đi cho. Dân Ngải Thầu, tiếng là mù chữ, là dốt, là thất học, là hèn kém, nhưng phàm là con người biết đổ mồ hôi, sôi nước mắt vì miếng cơm manh áo thì lại chả có đứa nào không biết so sánh, bì tị. Nghiêm khắc và cứng rắn với tổ viên của mình thì dễ làm người ta mếch lòng, tổn thương. Mà động viên, khích lệ nhiều thì người ta cho rằng mình bổng cao, lộc dày không chia cho anh em, chỉ đãi bôi đầu lưỡi cho sướng…
Sử cứ ngồi đến lúc đứa con trai lên mười gọi vào ăn cơm. Thế ra, mẹ đau bụng, thằng bé lớp bốn thương mẹ vào bếp thay. Rau vừa mặn vừa nhũn. Cơm thì chỗ sống chỗ chín. Nhưng không ai chê cả. Thế cũng là được rồi. May sao, được nửa bữa thì nhà nước cho điện. Điện sáng hiện rõ bữa tối sơ sài và những khuôn mặt ăn vội ăn vàng không dám nhìn nhau. Tiếng nói của ai đó cứ lởn vởn bên tai, nghe như tiếng tay trưởng ban văn hóa. “Ăn uống thế này thôi à? Không làm chén rượu à?”. Sử thấy nóng mặt trong cái sự tưởng tượng vơ với, anh và thật nhanh, nhai thật nhanh và nuốt thật nhanh, rồi đứng dậy. Uống xong hớp nước thì lại vớ cái mũ chàm đội lên đầu. Thằng bé vừa gặm cơm dính trên muôi gỗ vừa hỏi:
– Bố đi đâu thế?
Sử nói khá rõ:
– Bố sang nhà bác Dìn chơi, con đi không?
Thằng bé lắc đầu. Chơi gì mà chơi ở cái nhà ấy. Bạn bố chứ bạn con à. Sử như đọc được suy nghĩ của thằng bé thì mỉm cười đi ra sân. Trời lất phất mưa.
ÂM BINH VÀ LÁ NGÓN: CHƯƠNG 6