ÂM BINH VÀ LÁ NGÓN: CHƯƠNG 5

Dìn đi trước, con chó mực lẽo đẽo theo sau. Sợi xích trên tay Dìn khi căng lúc chùng. Thi thoảng con mực dừng lại, làm động tác đánh dấu đường. Dìn cười nhạt. Mày còn đường về nữa hay sao mà đánh dấu? Cỏ ướt, đá ướt, con đường ẩm sũng hơi nước vì trời mới cho mưa. Con dốc cao phía trước mặt khiến Dìn dừng bước, lấy hơi. Con mực thè lưỡi ra thở. Giữa cái lưỡi hồng hồng nhọn hoắt của nó có một cái đốm đen to bằng cái cúc áo. Giống chó đốm lưỡi khôn phải biết. Con mực vung vẩy hai cái tai, rũ bớt hơi sương, rồi đến cái đuôi dính đầy quả ké và hoa cỏ đĩ. Bốn cái chân đốm trắng bị bùn đất nhuộm nhem nhuốc, những cái huyền đề bị cỏ khô găm vào, nó lấy răng gàm ra rồi lại ngồi xuống thở, mắt không ngừng theo dõi từng cử chỉ nhỏ nhất của ông chủ.
Dìn đi mấy hơi mới lên đến đỉnh con dốc dài và cao dựng đứng. Xứ Mường Thàng vốn là xứ đá, dốc và đá. Dìn đi từ tơ mơ đến giờ mới hết lộ trình mười ba cây số. Nhức cả đầu gối và buốt hai cánh mũi. Con mực vẫn trung thành bám sát. Phố huyện Mường Thàng đã hiện ra trước mắt. Con mực cất tiếng sủa khe khẽ. Con chó bốn tuổi còn biết vui mừng vì được theo chủ lên phố, huống hồ cái thằng người bốn mươi tuổi cả tháng mới ra khỏi bản một lần. Dìn đưa tay day sống mũi, không phải vì trời lạnh quá. Lạnh này đã ăn thua gì, chừng năm, sáu độ là cùng. Mà bởi cái mùi thức ăn tuôn ra từ những hàng quán bên đường. Mùi nước phở ngầy ngậy, mùi tháng cố, mùi thịt gà luộc, mùi chả nướng…Toàn thứ mùi khiến con người không cưỡng lại được sự kêu gào thèm muốn. Nhất là khi Dìn đang đói. Mà trời thì trưa rồi. Chẳng qua là không có nắng thì không bắt được bóng thôi, chứ cái bụng Dìn đã đổ chuông thì không có sai.
Con mực bắt đầu giằng xích. Nó có vẻ không thích cái mùi ở đây. Còn Dìn thì khác, cái mùi ở đây đã đẩy Dìn đến đỉnh điểm của nỗi chịu đựng. Dìn quả quyết dắt con mực vào. Cô chủ quán có đôi má ửng đỏ vì than củi đeo cái tạp dề màu xanh da trời chạy ra, vồn vã:
– Ăn thịt chó hay bán chó?
Dìn cầm sợi dây xích đưa ra phía trước:
– Bán đấy!
Cô chủ quán nhìn con mực lông óng mượt, lưng bằng phẳng, mông núng nính, áng chừng hai chục cân thì buông một câu.
– Seng pùa nhá, khuyến mãi hai cái chân và một chai rượu!
Dìn lắc đầu, nài nỉ:
– Thêm trăm nữa mới bán.
Cô chủ quán chạy vào trong. Như là khiêu khích, cô chủ mở cái nồi dựa mận ra đảo và xoay xoay mấy xiên chả đang độ vàng. Mà từ chỗ nấu nướng đến chỗ Dìn và con mực đứng, có vài cái nhảng chân. Cô chủ kì kèo:
– Năm chục nữa thôi!
Dìn nắm chặt sợi dây xích, nuốt nước bọt, vờ kéo con mực đi. Cô chủ quán gãi gãi cái vành tai đỏ ửng:
– Thôi được rồi, mang lại đây!
Dìn chùng chình:
– Có được rượu không?
Cô kia tủm tỉm:
– Thì vẫn có mà.
Dìn buộc con mực vào gốc đào. Cây đào đang ho hoe nở những cái hoa đầu tiên màu hồng nhạt. Cô kia lôi từ tạp dề ra mớ tiền lầu nhầu, nhặt lấy tám trăm ngàn đưa cho Dìn. Dìn cho tiền vào ví, rửa tay cẩn thận rồi ngồi vào bàn. Có ngay hai cái chân chó thui vàng luộc chín và chai rượu nhỏ. Dìn vừa nhấm nháp vừa hít hà cái mùi thơm từ những món thịt chó bay ra. Trước đây, Dìn và những người Mông ở Ngải Thầu không ai ăn thịt chó cả. Giờ thì ăn rồi. Vì sao thì chả biết. Thi thoảng, tiếng rên rỉ đòi ăn của con mực làm Dìn thấy rợn rạo. Dìn cố tình gặm rối và mang cái xương ra tận mõm con mực, đặt lên cái lá bàng khô nằm ngửa mà mời một cách chân tình.
– Ăn đi!
Con mực ngửi ngửi cục xương rồi khoanh chân nằm xuống, mắt buồn buồn nhìn đi chỗ khác. Nó nhất định không chịu gặm xương đồng loại. Dìn nhìn quanh, không gian sực nức mùi thịt chó. Ở đây làm gì có thứ cho mày ăn, chắc mày cũng đói lắm rồi. Dìn nhìn cô chủ quán, hỏi nhỏ.
– Có cơm không nhỉ?
Cô chủ quán trạc ba nhăm, nhìn Dìn rất lạ:
– Thịt chó ăn với bún chứ, quán chỉ còn cơm nguội thôi!
Dìn hấp tấp:
– Cơm nguội cũng được mà!
Cô chủ quán đủng đỉnh mãi rồi mới đặt bát tô cơm nguội xuống bàn, cạnh Dìn và còn hào phóng múc thêm cho một bát nước xáo măng chua. Dìn ăn nửa chỗ cơm, còn một nửa mang ra cho con mực. Con mực vừa ăn vừa theo dõi Dìn như thể nó sợ nhân lúc nó ăn, Dìn sẽ biến mất khỏi quán mà không mang theo nó. Dìn đợi nó ăn xong thì ngồi xuống, chìa bàn tay ra. Con mực đặt bàn chân trước vào tay Dìn. Dìn nắm chặt lấy một lúc rồi buông ra. Con mực lại lấy lưỡi liếm tay Dìn. Dìn vuốt trán con mực thêm vài cái nữa rồi dặn dò:
– Mày ở đây, ăn tết ở nhà này nhá, tao về đây!
Dìn vội vã bước đi, thi thoảng ngoái cổ lại, nhìn con mực đang lồng lộn giằng co với sợi xích.
Lưng chiều, nghe tiếng con chó rên rỉ mừng rỡ ngoài sân, cô chủ quán thịt chó nhìn ra thấy gã bán chó lúc trưa đang luấn quấn bên con mực. Cô ta cầm con dao nhọn đi ra phía gốc đào, hất hàm như thể không quen biết.
– Anh làm gì ở đây?
Dìn lúng túng buông cái chân trước của con mực ra, khẽ lảng:
– Vẫn chưa mổ thịt à? Nó béo quá nhỉ!
Cô kia thở phào quay gót.
– Dào ôi, tiếc thì đem về mà nuôi.
Nhưng mà vẫn ngầm để ý, ai mà biết được…Dìn lừng khừng để con mực liếm tay mình lần nữa rồi mới rời bước.
Chiều muộn Dìn quay lại quán thịt chó. Từ xa, bên gốc đào già chỉ còn trơ chọi sợi dây xích, không thấy bóng dáng con mực đâu. Cái sợi xích đã xích tay thằng Vần trên hang đá đấy. Dìn bần thần tiến vào khoảng sân quán. Thấy tiếng người rì rầm. Con này nhiều tiết quá. Dìn nghé vào khu giếng nước, thấy một thằng đàn ông giữ nghiến con mực trên cái kệ gỗ. Bốn chân con mực bị trói chặt, mõm cũng bị trói. Những giọt tiết cuối cùng nhểu xuống cái chậu nhôm đỏ sẫm máu. Con mực bị cái gã cầm dao chắc vừa thọc tiết hất xuống sân. Gã lấy dao cứa những nút trói ở chân, con mực gồng người lên chạy vụt ra đường, chạy qua mặt Dìn chục mét thì ngã vật xuống. Dìn tái mặt, quay bước. Lần này là về hẳn. Những bước chân chệch choạc của Dìn khiến chiếc xe máy đi trên dốc xuống còi inh ỏi. Những năm gần đây, người Mông vùng này cũng đỡ hơn, nhiều người mua được xe máy để đi chợ huyện rồi. Chiếc xe Hon đa màu đỏ dừng ngay sau Dìn, Dìn quay lại, nhận ra Sử thì vô cùng ngạc nhiên. Sử gỡ cái mũ bảo hiểm treo phía trước đưa cho Dìn rồi nói như ra lệnh:
– Lên xe đi!
Nếu là mười năm trước, cái lệnh của Sử, Dìn bỏ ngoài tai. Nhưng giờ này, Dìn chỉ biết thin thín vâng lời. Chiếc xe xuôi con dốc dài mà ban sớm Sử phải lấy hơi leo lên. Sử im lặng, Dìn cũng im lặng. Tốt nhất là im lặng, vì nếu bất cẩn, mất tập trung và lạc tay lái là cả hai lăn xuống vực. Đường vừa hẹp, lổng chổng đá, lại ngoằn nghèo nữa chứ. Chưa kể sương mù dày, chiếc đèn xe chỉ rọi sáng một khoảng bằng quyển vở học sinh, nếu không phải là người thạo đường và cứng tay lái thì không đi được. Khi chiếc xe đã đến đoạn đường bằng, Sử mới hỏi khẽ.
– Đêm qua thằng Vần về nhà phải không?
Dìn thấy lạnh hết cả sống lưng, hỏi lại Sử:
– Thằng Vần về thật à?
Sử không nói gì. Xe qua cái rạch nước chảy qua đường nhưng mùa này không có nước, Sử đi rất chậm rồi thình lình quay cổ nhìn Dìn, nói đanh chắc:
– Mày là anh, mày phải nghiêm khắc với nó. Nó trốn khỏi trung tâm là sai rồi.
Dìn không dám nói gì nữa, ngồi im phăng phắc sau xe, bụng bảo dạ là Sử sẽ đưa Dìn vào trụ sở ủy ban xã. Sử có thừa lý do để đưa Dìn vào ủy ban xã mà tra hỏi những chuyện có liên quan đến thằng Vần. Tuy nhiên, xe đã đi qua cổng ủy ban xã. Rất có thể là Sử sẽ đưa Dìn về nhà Sử. Mà Dìn thì sợ nhà Sử hơn cả ủy ban xã. Dìn nhìn con đường nhấp nhổm đá mà lòng dạ xáo trộn lạ lùng. Thi thoảng Dìn lại đưa tay sờ vào túi áo ngực, nơi có số tiền bán con mực, Dìn mới tiêu có vài chục nghìn. Nhưng rồi xe cũng chạy qua lối lên nhà Sử, Dìn thở phào. Vài phút sau thì xe dừng hẳn, Dìn bước xuống, đưa cái mũ trả cho Sử. Sử lại nhìn lên cái dốc ngoằn nghèo phía trên đường mà nói như ra lệnh.
– Lên nhà đi!
Dìn lại ngoan ngoãn tuân lệnh, lẽo đẽo đi sau Sử lên nhà của chính mình.
Cũng như nhiều nhà Mông khác ở Sín Chải, nhà Dìn không có cổng hay ngõ gì cả. Lối đi lên men theo vạt rau cải đắng xanh ngùn ngụt. Thứ rau mà con lợn nái chê đắng không ăn, chỉ quần nát từng vạt cho bõ ngứa, bõ tức đàn con cứ lẵng nhẵng đeo bám. Qua rau cải là đến mảnh đất loi choi đá, trồng mấy khóm hành hoa. Lối đi toàn phân lợn và phân dê khiến Sử chậm rãi bước, dù cái giày của Sử cũng không sạch sẽ gì, thậm chí mũi giày còn đầy bùn đất. Dìn đi sau Sử, cách một khoảng vừa phải, đủ để không thân thiết và cũng đủ để không khách khí quá. Thực ra, cái thời Dìn và Sử thân thiết nhau đã trôi qua lâu rồi. Tình cảm của hai người như con suối kia, đã thay bao nhiêu lần nước. Nhưng Dìn lại không dám coi Sử như khách. Vì sao thì Dìn không biết. Nhìn thấy Sử, con chó con sủa lách nhách đánh động. Vợ Dìn vội vàng vơ búi chăn gối lùng nhùng, ngổn ngang, dấp vào một xó giường rồi đứng dậy chào khách. Sử niềm nở đáp lời Dó.
Thấy Dìn vẫn loanh quanh bên cái bếp than nguội lạnh, mà lẽ ra giờ này phải ấm lửa mới phải. Sử lại nói:
– Ngồi xuống đi!
Dìn bất đắc dĩ ngồi xuống chiếc ghế tự tay Dìn đóng bằng thân gỗ dài xẻ đôi còn nguyên nhác bị mọt gặm lỗ chỗ. Ánh mắt bất mãn của Dìn khẽ ánh lên rồi lại chìm xuống trong một nỗi nhẫn nhịn miên man. Sử nhìn quanh một lượt căn nhà tối um vì chiếc đèn dầu duy nhất chả sáng được bao nhiêu. Sử bảo:
Điện cứ lúc có lúc mất thế này, khổ thật!
Rồi Sử nhìn sâu vào mắt Dìn, nói cái chuyện quan trọng hơn chuyện điện đóm.
– Thằng Vần về đây, mày phải khuyên nhủ nó. Nó từng ấy tuổi rồi, còn lông bông nữa là hết đời người.
Thấy Sử nhổm người trên ghế, Dìn gật túi bụi:
– Được rồi, được rồi cán bộ đừng có lo, tôi sẽ khuyên nó mà.
Sử gật đầu rồi đứng dậy bước ra sân. Lúc này đã khoảng chín giờ tối.
Dìn thấy bóng Sử chìm vào bóng đêm rồi mới vào nhà. Cái bóng đèn duy nhất trong căn nhà mênh mông soi không rõ khuôn mặt rầu rĩ của Dó, người đàn bà ngoài bốn mươi đã có hai mươi lăm năm làm vợ Dìn. Dìn hạch sách:
– Sao chưa nổi lửa? Bọn trẻ đâu hết?
Vợ Dìn đưa mắt nhìn ngang dưới cặp lông mày rậm, to, gặp hai ống chân quần lấm láp của chồng, khẽ nói:
– Đi đám cúng hết rồi.
Dìn nằm ngửa ra giường, chân vẫn ở trong giầy, lại đưa tay sờ lên ngực. Cái bụng Dìn sôi òng ọc. Cái đám trẻ đi hết, nhà vắng lặng hẳn, nhưng không vắng bằng sự thiếu mặt của con chó mực. Vì bọn kia đi, hết đám cúng lại mò về, chứ con mực đi, là vào nồi, vào chảo, vào bụng người ta, sao mà về. Hai đứa con trai tuổi mười bảy, mười tám, nằng nặc đòi lấy vợ, ba đứa con gái, đứa lớn mười sáu, đứa bé mười ba, ra ngắm vào nguýt, cũng muốn lấy chồng lắm rồi. Dìn tính, nếu khéo ra, gả chồng ba đứa con gái cũng đủ cưới về hai đứa con dâu và mua được con trâu cái cho vợ Dìn thả. Dìn tính thế, nhưng dân bản không tính thế. Dìn đi tù về mấy năm rồi mà dân bản vẫn còn ái ngại lắm. Cứ cái đà này, người ta thừa con mới gả tới nhà Dìn.
Dìn lại sang bàn. Trên bàn là bộ ấm chén cũ. Cái ấm cáu bẩn, bẩn đến nỗi lúc trước Dìn không dám rót nước mời Sử. Bốn cái chén thì mỗi cái một cỡ, mỗi cái một kiểu, sứt mẻ lung tung. Dìn nhấc cái ấm lên. Cái ấm cũng đói nước. Đến thế này là cùng. Dìn cầm cái ấm ném ra sân. Cái ấm rơi đúng vào vũng nước đái lợn nên không vỡ. Không thấy tiếng đổ vỡ, cơn giận dữ trong Dìn như được nhân lên. Dìn xàm bàn tay với những ngón thô bè vơ lấy ba cái chén ném tiếp ra sân. Lần này thì vỡ hết, vỡ vụn, vì chúng nhỏ, bay xa, bay đến tận bãi hành hoa lổm nhổm đá. Dìn nguôi một tí, nhưng còn hậm hực lắm:
– Cúng gì thế?
Vợ Dìn nhát gừng:
– Cúng vợ nó ốm, nó uống thuốc chợ cả tuần rồi có khỏi đâu.
Dìn văng tục:
– Muốn khỏi thì phải bỏ tiền ra mà mua thuốc tốt của nhà nước. Lạ chó gì cái thuốc của bọn Kiều A. Mà thằng Lẩu thì chỉ thích rượu thịt, chứ cúng bái gì.
Vợ Dìn tròn mắt nhìn Dìn. Từ ngày đi tù về, Dìn nói chuyện sợ lắm. Dìn chẳng tin con ma rừng, con ma suối có thể hại người, chẳng tin ông thầy cúng có thể cúng khỏi bệnh nữa. Dìn không tin gì cả ngoài một câu cửa miệng, cái số nó thế. Vợ Dìn không biết số là gì. Chỉ lơ mơ hiểu rằng, mỗi người có một con đường đi, rộng hẹp, dài ngắn không giống nhau và do trời đất, tổ tiên ông bà ban cho như vậy. Vợ Dìn dịu giọng:
– Nó làm gì có tiền mà mua thuốc tốt?
Dìn co cả hai chân lên ghế, vớ cái điếu cày, chỉ ra cửa.
– Thế sao có tiền cúng liên tục thế?
Vợ Dìn khẽ khàng:
– Đi mà hỏi nó ấy, hình như thầy cúng chịu cho, sau này bớt vào khoản lễ lạt của con Su, nhà Lẩu chả có thằng con giai lớn tướng đang học trên huyện là gì?
Thì ra thế, con Su mới mười ba tuổi đã có thể kiếm tiền chữa bệnh cho mẹ nó bằng cách ấy. Thằng Lẩu cũng đến là tinh khôn. Mà ngu thật, cái thằng Đái ngu thật. Thừa tiền đi nuôi thầy cúng. Một năm không rước thầy cúng một lần thì ăn không ngon, uống không say. Con vợ nó, kể cũng lạ, nghiện cúng như nghiện thuốc phiện…Nghĩ đến đây thì Dìn dừng lại, dáo dác nhìn vào đống nồi niêu hỏi vợ:
– Thế để tao ngủ đói à?
Dó chống gối đứng dậy đi về phía bếp, lôi trong cái mí cở (gùi nhỏ bằng tre) ra một cái bọc gì đấy rồi để xuống mặt bàn.
– Cơm nếp bên đám tôi mang về đấy, nguội hết cả rồi.
Dìn sáng mắt, trách vợ:
– Thế sao lúc trước không lấy ra?
Vợ Dìn nhìn cái bàn đã sạch bách ấm chén, nói nhỏ:
– Tưởng đi phố no, say rồi thì không nhớ bữa nữa chứ!
Dìn lại đưa tay sờ túi áo ngực, yên trí bảo vợ.
– Có đếch gì ăn mà no, được bát cơm nguội, lại gặp thằng bạn đi chịu tiền xe dưới xã lên, phải trả tiền cho nó.
Vợ Dìn lườm chồng, giờ mới dám lườm:
– Giầu nhỉ, mình thì đi bộ, lại trả tiền xe cho nó?
Tuyệt nhiên Dó không thèm hỏi về con chó mực.
Dìn ăn hết tảng cơm nếp to bằng quả gấc thì mới biết mình no quá. Hồi mới mãn hạn tù, Dìn ăn ít lắm, độ hai bát một bữa. Bố Dìn ngờ rằng ba năm Dìn ở tù, bị ai đó đánh vào bụng nên không thể ăn được nhiều. Dìn bảo, chả ai đánh cả, quy định nó buộc phải ăn uống điều độ thế. Vậy mà, chỉ bốn năm sau khi ra tù, dạ dày Dìn như quả bóng cao su, càng lúc càng lèn được nhiều. Giờ Dìn ăn khỏe như thủa trai tráng. Ăn no là buồn ngủ, giống hệt như con lợn, con dê, con ngựa ấy. Dìn sang giường, lấy chân nọ đạp vào cổ chân kia, hai cái giày tự rơi xuống đất. Dìn thường cởi giầy theo cách ấy, chứ không mấy khi thò tay vào vì giầy là thứ bẩn nhất, nó giẵm lên đủ thứ nhầy nhụa. Dìn lấy chân khều chăn, kéo lên tận cổ, tay đặt vào túi áo ngực, làm một giấc. Vợ Dìn chỉ đợi chồng ngủ là tắt đèn, rón rén lên nằm cạnh. Nhà Dìn có bốn cái giường. Hai cái kê gần nhau là năm đứa con chia nhau ngủ. Còn cái trong buồng là để hai ông bà già lúc ở nương về ngủ. Hai ông bà cũng sắp về rồi đấy. Được cái là Dìn tự đóng nên rộng rãi lắm, chẳng cần kích cỡ, số đo gì. Và cũng được cái, vùng này quanh năm mát mẻ, mùa đông thì băng giá nên chả lo thiếu chỗ.
Tiếng con chim lợn kêu ngay đầu hồi làm Dó giật nảy mình, đưa tay cấu vào cánh tay chồng. Dìn ngồi dậy, nghe cho rõ, đoạn thì thào.
– Cứ ở yên đây. Bọn trẻ về chưa?
Vợ Dìn cũng thì thào:
– Từ Mùa Sán về đây ông tưởng gần hả. Chúng nó ngủ trên ấy. Dìn tụt xuống đất, rón rén đi ra cửa như một con mèo. Trời muộn, trăng lá lúa nằm chéo dưới thung lũng, gần với núi ông Sét. Chả bù lúc chập tối thì mịt mùng. Dìn giả tiếng lợn con “ựt ựt ựt…”. Bóng đen từ phía chái nhà nhảy ra. Dìn đưa tay vào túi áo ngực, móc ra số tiền bán con mực đưa cho em trai, giục giã:
– Đi nhanh đi, thằng Sử biết mày về rồi!
Bóng đen giật lấy tiền vội vàng tuột dốc xuống đường. Dìn đứng đực mặt nhìn trăng. Trăng mỏng, sắc như cái mắt một mí của thằng Sử. Trăng nhìn thấy hết mọi sự. Rồi đây thằng Sử cũng sẽ biết hết việc Dìn đã làm.
Nhà Dìn và Sử cách nhau một nương ngô rộng chừng nửa bao hạt giống. Lúc bé, thằng Sử nổi tiếng nghịch ngợm còn Dìn thì hiền lành, bẽn lẽn như con gái. Cùng tuổi con mèo mà Dìn là con mèo nhà nằm bếp, còn Sử thì giống con mèo rừng khôn ranh. Cùng được đi lên nội trú huyện học như nhau mà thằng Sử học hết lớp thấp đến lớp cao, còn Dìn bỏ dở lớp bảy về lấy vợ. Học xong thì Sử đi bộ đội. Đi bộ đội về thì lên xã làm cán bộ Đoàn, rồi Sử làm công an xã. Từ lúc ba mươi tuổi, Sử đã là trưởng công an xã Ngải Thầu này rồi. Con đường Sử đi, rộng và sáng. Còn con đường Dìn đi, tối tăm, chật hẹp thế nào ấy…
Dìn cứ trằn trọc mãi đến khi con gà rừng gáy sáng thì bò dậy nhóm lửa. Trời đất lúc này rét sâu nhất, chỉ vài ba độ. Lửa vừa leo lét bén lên thì Dó cũng mò dậy, sù sù choàng cái chăn cũ, ngồi bên kia, đối diện với Dìn. Cuộc sống lam lũ cực nhọc khiến những người đàn bà vùng núi đá này già nhanh lắm. Những nếp nhăn quanh mắt bị khói ám, bị chàm nhuộm, bị nước mắt làm hoen ố khiến Dó giống bà sáu mươi, dù chỉ hơn Dìn ba tuổi. Lửa mỗi lúc một to. Con lợn nái trong gầm giường thức giấc, loạng choạng bò ra, lấy cái mõm dài ẩy ẩy cái ghế Dìn ngồi như thể đòi ăn. Con chó con từ gầm bàn cũng lừ đừ đi đến hôi lửa. Rồi con mèo mướp, phóc một phát từ trên giường ba đứa con gái xuống đất, ngao ngao đi lại, dụi dụi cái đầu vào chân Dìn rồi rón rén leo lên lòng ông chủ. Cũng lạ, những con vật trong nhà này, con gì cũng quý Dìn, cứ sán vào Dìn mà gạ gẫm để được yêu thương, mà vòi vĩnh để được ăn. Rạng sáng qua, Dìn cũng ngồi đúng chỗ này mà vuốt ve, mà dặn dò con chó mực…Thế rồi, nhìn quanh nhà, không còn gì đáng giá ngoài con mực, Dìn cũng bấm bụng rủ nó lên phố huyện bán béng. Số tiền ấy, thằng Vần hút hít chả được mấy ngày. Nghĩ đến con mực, người Dìn nôn nao như thằng say thuốc lào buổi sáng.
Thằng Vần đi cai nghiện lần thứ tư vừa trốn về tuần trước. Nó về hôm trước là hôm sau dân bản mất cắp, người thứ nọ, người thứ kia. Chân cẳng nó, nom như cây cà kheo, cái mặt nó thót lại phía trên hai gò má, hai hố mắt trũng sâu nhưng con ngươi lại lồi ra. Hồi bé, Vần với Dìn thường ngủ lại trên nương thuốc phiện để canh nhựa. Mỗi lần bố Dìn mang nhựa về bản là hai anh em lại tập tọng hút. Cuối cùng thì cả hai cùng nghiện. Dìn đến lớp học và tự cai được, còn thằng Vần, nghiện từ đó đến giờ rồi. Tám năm trước, trong một lần đi tiếp tế cho thằng Vần trong hang Đung Đeng, thấy thằng em nghẹo đầu, sùi bọt mép, Dìn thương lắm. Bao nhiêu người Mông chọn cách cai thuốc cho người thân như thế này chứ có riêng nhà Dìn đâu. Nhưng hang đá lạnh buốt và quạnh vắng, nhỡ nó chết thì sao? Dìn ngồi xuống, đỡ đầu nó lên, nó lắp bắp:
– Anh cứu em với, em muốn sống…
Cứu nó bằng cách nào nếu không phải là kiếm tiền mua thuốc cho nó? Kể từ ngày cây thuốc phiện bị phá triệt để, Dìn không còn muốn nhìn mặt Sử nữa. Chính Sử là người dẫn đoàn cán bộ lên nương thuốc phiện nhà Dìn mà phá, đẩy cả nhà Dìn vào cảnh khó khăn. Nương ấy, xưa trồng thuốc một vụ, bán đi, đủ đong ngô, đong lúa ăn no cả năm. Giờ trồng lương thực, ăn hai tháng là hết, còn lại là đói rài đói rạc. Lúc ấy, Dìn thấy hận Sử lắm. Dìn nghĩ cách trộm thứ gì đó nhà Sử để đem bán. Và thật dễ dàng với Dìn khi nghĩ đến hai con trâu nhà Sử thả rông trên rừng. Dìn bắt một con, dắt sang tận bên kia sông bán cho người Nùng. Cả tháng sau Dìn mới bị bắt. Dìn ngồi tù ba năm. Ba năm ấy, bao nhiêu đêm Dìn không chợp mắt. Nghĩ lên nghĩ xuống, nghĩ ngược nghĩ xuôi, che chắn, bao biện thế nào thì Dìn cũng thấy là mình sai. Ngày Dìn bị bắt cũng là ngày Sử đề nghị lên cấp trên đưa Vần và chín thanh niên khác trong bản đi cai nghiện ở tận vùng hồ thủy điện tỉnh dưới. Ngải Thầu sau ngày sát nhập với Sư Tủng thì có mười bốn thôn bản, phần lớn là người Mông, người Dao, người Nùng và ít người Pa Dí, Thu Lao, Giáy sinh sống. Lạ thay, bao nhiêu cái tệ nạn chết người đều đeo bám lấy người Mông hết. Ma túy, trộm cắp hoành hành, con gái thì bỏ sang bên kia biên giới lấy chồng. Nhưng trước giờ, chưa có người nào ở Ngải Thầu bị bỏ tù vì những việc ấy cả. Thành ra cả xã ai cũng biết Dìn, biết cái nhà có hai thằng con trai thì hỏng cả hai, thằng trộm cắp tù tội, thằng nghiện ngập trộm cắp. Tiếng xấu như cơn gió chạy khắp núi non, khắp thung lũng, con trai Dìn mon men đến đám nào, đám ấy tự nhiên rã ra. Con gái Dìn, cũng có thằng nọ thằng kia tán tỉnh nhưng chỉ tán cho vui miệng thôi thì phải, chưa đứa nào có ý định nghiêm túc mà thưa gửi người lớn cả…
– Tao phải đi gặp cán bộ Sử thôi!
Dìn nói với vợ thế ngay sau khi buông bát. Dó không nói gì cả. Trong đầu cô sớm hình dung ra cái cảnh Dìn hớn hở lúc đi, lầm lì lúc về rồi. Mà tính Dìn thế, dễ thay đổi lắm. Kể từ ngày Dìn ở tù ra, thi thoảng lại có một thằng mặt mũi chi chít sẹo gớm ghiếc tìm đến. Chúng kéo nhau lên hang núi bàn bạc gì đó rồi về nhà bắt Dó làm cơm, ăn uống say sưa rồi đi. Mỗi khi Dìn đi đâu đó ra khỏi nhà, Dìn đều nói với Dó là đi gặp cán bộ Sử, nhưng thực tế thì đâu phải như thế. Nhiều lúc, vừa tụt xuống đường, thấy người ta ngược thì Dìn ngược, gặp người ta xuôi thì Dìn xuôi. Còn nhà Sử, chỉ cần đi tắt qua nương ngô là đến. Sử trăm thứ việc, đâu phải lúc nào cũng dư thừa thời gian mà tiếp Dìn. Dìn loay hoay bên cái lù cở, tìm cái áo chàm mới nhất diện vào. Không biết lần này Dìn sẽ mang theo thứ gì của Dó ra khỏi nhà? Chả có gì mà mang theo cả. Mùa này lê mận còn chưa ra hoa. Nhà chỉ còn con lợn nái gầy tom thôi…
Dìn đứng ngơ ngác dưới đường từ lúc sáu giờ sáng như người mất phương hướng. Sương muối phủ trắng cây cỏ. Những người đi qua đường ai cũng vội vàng. Dìn vẫy ba cái xe máy của người Láo Tả đi qua, không xe nào dừng lại cả vì họ cũng đi đôi đi ba cả rồi. Xứ dốc này thế, xe đi một người xóc lắm, nên dù quen, dù lạ, gặp xe không là vẫy thôi. Dìn lững thững bước trên con đường lên phố huyện…Có hơn chục cây số thôi mà. Sau lưng Dìn là cái cở to nhưng có vẻ không đựng gì. Từ trên nhà nhìn xuống, Dó lẩm bẩm. Nhà Sử đâu có đi hướng ấy…Nhưng Dó làm gì có quyền mà can thiệp. Với lại Dìn thà đi đâu đó còn hơn là ở nhà lườm nguýt hai thằng con trai. Dìn đi một lúc thì ba đứa gái nhà Dó cũng sửa soạn đi nương lấy ít măng về ăn tết. Dó với Dìn cùng xã nhưng cách xa nhau cả nửa ngày đường núi. Dó người Mông Mùa Sán, là chị gái của Lí Chinh, Lý Đái và hai đứa em gái lấy chồng Kiều A. So với Mùa Sán thì Sín Chải là vùng thấp, vùng đệm. Mùa Sán nổi tiếng với đá đứng đá ngồi thì Sín Chải nổi tiếng với những thang ruộng và vị thơm ngọt của hạt ngô nếp Mường Thàng nhỏ xíu, tròn xoe. Làm dâu Sín Chải, tự nhiên Dó sinh ngại quay về Mùa Sán, nhất là từ mấy năm nay, bố mẹ Dó lần lượt qua đời. Vừa rồi, nghe nói Mỷ, vợ Chinh bị mất tích, cũng đã về để xem việc em dâu thế nào đâu. Dó nghĩ thế cũng bởi cái chuyện đàn bà con gái xứ này bị lừa bán, bị mất tích thi thoảng lại xảy ra. Không may vào nhà nào thì nhà đấy phải chịu thôi. Năm thì mười họa cũng có đứa trốn về được, nhưng mà ít lắm, phần lớn là biệt tăm biệt tích luôn.