Đêm mùa đông ở Mùa Sán rét thấu xương. Cái tay vừa thò ra khỏi túi áo đã bị giá buốt ngoạm lấy, tháo từng đốt xương rời nhau ra mà không chảy máu. Thời tiết này mà đi ra ngoài đường thì ngang giời đày.
Ấy thế mà Páo vẫn giũ lửa lại mà đi. Hẹn rồi mà lại. Không phải cái hẹn thời yêu đương để chỉ nghĩ đến nhau thôi, người cũng nóng lên. Hay là ngồi với nhau trên tảng đá ướt sương cạn cả đêm mà da thịt vẫn ấm. Vẫn thèm được ngồi đến lúc con gà rừng gáy và rồi chỉ mong ngày chóng cạn lại tới đêm. Cái hẹn này là vì công việc thôi. Mà lại là việc chung nữa. Mùa Sán đêm không trăng sao, trời tối đen, mịn như thảm lông con dê đực khổng lồ. Hai chân sau của con dê ấy đứng ở bụng núi Plâu, hai chân trước chồm lên đường biên để bứt cỏ hoặc lá rừng đẫm sương. Páo cũng rứt một chiếc lá rừng ướt át, cuộn lại, đưa lên môi. Tù tí tù. Có tiếng khèn môi làm bạn, cũng đỡ nản. Cho dù tiếng khèn cũng run bần bật.
Páo đến nhà Thào Chớ đúng hẹn. Ngày thì bà con chổng mông trên nương, lúc quái nào nghe cán bộ thuyết trình. Thế nên phải tránh thủ buổi tối. Thào Chớ vồn vã:
– Vào đây đã, vào đây, làm điếu thuốc ấm bụng rồi đi.
Páo rụt cổ trong chiếc áo bông lụng thụng mà đợi chứ không vào. Không chê lửa, mà sợ ngồi xuống rồi khó đứng lên. Lửa là thế mà. Thào Chớ đứng dậy, suýt xoa:
– Chà, chú mày mà đến muộn một tí là tao lên giường rồi!
Mỗi người một cây đèn pin. Thào Chớ khôn lõi gạo, lên tiếng khen:
– Đèn chú mày ba pin có khác, sáng cháy cả cỏ!
Thào Chớ đi trước, chiếc đèn của trưởng bản giắt sau lưng. Chớ thì thào:
– Đến nhà thằng Sùng trước!
Páo không nói gì cả. Lối lên nhà thằng Sùng rậm beo đẻ. Mới bảy giờ tối mà đèn tắt ngóm, đã lên giường ngủ hết. Thào Chớ gọi ba câu, thằng Sùng lục đục mãi trong đống chăn chiếu lùng nhùng mới chui ra được. Nó loanh quanh tìm cái điếu cày. Thào Chớ xua tay bảo không hút, vừa hút ở nhà. Sùng gọi vợ dậy, sai vợ đi đun nước mời khách. Páo xua tay, có phải khách đâu, nước nôi gì, bảo cô ấy ra đây, chúng tôi có việc trao đổi với vợ chồng cậu.
Vợ Sùng ngồi ngay ngắn trên ghế, thấy công an, trưởng bản đến nhà thì giật mình, có buôn bán gì trái quy định đâu chứ. Thào Chớ nói vắn tắt quá, thằng Sùng không hiểu được. Cuối cùng Páo phải nói cụ thể.
– Tôi hỏi cậu, bọn Kiều A mua móng con trâu, nếu bóc móng ra bán thì trâu còn sống hay chết? Tôi lại hỏi cậu, nếu nó mua phấn lúa nếp, cậu vớt hết phấn lúa đi bán rồi thì cây lúa có còn đậu hạt hay không?
Sùng vỡ nhẽ nhưng lại chống chế:
– Nhà em có trâu đâu mà có móng để bán? Thú thực, chợ trước có ba cân râu ngô non đem bán được trăm ngàn.
Páo thở hắt ra:
– Đấy, ruộng ngô nhà cậu coi như mất thu hoạch, ngô mới trổ bông mà bị vặt hết râu làm sao nên bắp nữa hả?
Sùng hiểu ra, nhưng vẫn thắc mắc.
– Thế họ mua để làm gì?
Páo ngắt lời.
– Mua để làm gì thì cậu và bà con tự nghĩ lấy, nhưng chúng ta xét thấy những thứ đó gây ra thua thiệt, hại cho mùa màng thì bà con không thể bán.
Cả vợ chồng Sùng gật gù. Hai cán bộ lại bấm nhau đứng dậy, đi tiếp. Chứ cứ ngồi đây mà nghe cái cậu Sùng chất vấn thì có đến sáng mai mới hết chuyện.
Đi được vài nhà, Chớ bảo:
– Mày thơm như con cầy hương ấy nhỉ, mưa có khác!
Páo gí mũi vào tóc Thào Chớ rồi nhăn mặt. Chớ huênh hoang.
– Còn tao, thơm như con cáo!
Cả hai cùng cười. Thực ra, tóc của Thào Chớ có một thứ mùi rất lạ. Nồng nồng, khê khê như mùi thuốc phiện, nhưng lại có vẻ hăng hắc và thanh thoát hơn. Nói chung là rất khó tả. Hai người cứ đi từng bếp một, vận động bà con chống lại chiến dịch càn quét hàng tâm lý của người buôn bên Kiều A. Những phiên chợ cuối năm, toàn thấy người và hàng bên kia biên giới tràn sang bán. Khi họ mua, oái oăm là họ toàn đòi mua những thứ rất khó tìm như trứng ếch, móng trâu hoặc dễ tìm nhưng lại thiệt hại cho mùa màng như râu ngô non, phấn lúa nếp. Vì thế, để bà con hiểu ra và thoát khỏi những cám dỗ ấy là việc không hề đơn giản. Đi được năm nhà thì cũng gần hết đêm. Người có vẻ ấm lên một chút.
Càng về muộn càng không thể gọi bà con mở cửa được nữa. Thào Chớ bảo.
– Thôi, xa cũng được, chịu khó mà đi chứ làm thế nào. Cứ thấy nhà nào sáng đèn thì vào.
Có nhà ở tít trên nương cao. Hai người mò được lên đến nơi thì bở hơi tai. Vào đến nhà mới biết nhà toàn trẻ con, bố mẹ chúng đi vắng nên mới chong đèn cho đỡ sợ. Đã thế, còn gõ cửa buốt hết cả tay chúng nó không chịu mở. Cứ tưởng hai cán bộ là chó sói không bằng. Thào Chớ cằn nhằn:
– Thôi, để mai tôi ra nương mà gặp chúng nó cho nhanh, chứ cứ như thế này thì đến tết không hết lượt!
Được vài hôm, Páo lại ra khỏi nhà vào ban đêm. Chả là huyện có chương trình tuyên truyền về việc thực hiện kế hoạch hóa dân số và phòng chống ma túy, nạn buôn bán phụ nữ qua biên giới, nạn tảo hôn, cho bà con xem. Chương trình này do huyện hội phụ nữ chịu trách nhiệm. Nhưng phụ nữ Ngải Thầu vốn tiếng phổ thông rất yếu và xưa nay toàn ông chồng cõng con đi họp phụ nữ thay vợ nên huyện có sáng kiến tuyên truyền bằng hình ảnh và yêu cầu chính quyền xã vận động và hỗ trợ tổ chức. Xã lại gọi đến từng trưởng bản, đến công an viên để đi từng nhà báo bà con đến xem phim cho đầy đủ. Lần này thì chia nhau ra mà đi, mỗi người một cụm, một khoanh, chứ cứ rồng rắn đi chung thì không kịp mất.
Thào Chớ lại láu cá chọn cụm gần mà đi.
Ngải Thầu là xã vùng biên, theo chương trình là sẽ có ba đêm chiếu phim, để bà con thấy cái lợi của việc đẻ ít con và cái hại của thuốc phiện và cưới gả sớm. Máy nổ có rồi. Xăng có rồi, màn hình, loa có rồi. Xem ra cũng rộn ràng phết. Vào đêm đầu tiên, Páo đến bãi chiếu phim tài liệu từ lúc bảy giờ. Thào Chớ đã ở đó, nét mặt phấn khởi, lạc quan lắm. Đúng bảy rưỡi là chương trình chiếu phim bắt đầu. Cũng may là trời trong trẻo, tạnh ráo. Nhưng lạ chưa, chỉ có trẻ con đến xem, chả thấy người lớn đâu cả. Mà đã nói rõ về tầm quan trọng của buổi chiếu rồi cơ mà. Thì bảo xa không đến đã đành. Đằng này, gần cũng không thấy tăm hơi. Đến tám giờ, rồi chín giờ cũng thế.
– Hay là rét quá người ta sợ ra khỏi nhà?
– Thế người lớn sợ rét còn trẻ con thì không à?
– Thế này là thế nào?
Thào Chớ khùng lên.
– Cậu hỏi tôi thì tôi biết hỏi ai?
– Thế ông có nói với bà con là xem phim miễn phí không phải mất tiền không?
Thào Chớ đứng phắt dậy:
– Ơ hay, thế từ xưa tới giờ đã có cái gì đưa đến cho bà con ở đây xem mà phải mất tiền chưa? Nào là sách vở, học phí cho trẻ con, chăn màn cũng được cấp miễn phí!
Bọn trẻ con xem một lúc những cái cảnh cho người lớn xem thì dắt nhau về. Mà chúng cũng ngáp hết lượt rồi. Mấy bà cán bộ huyện hội phụ nữ áo đơn áo kép, cả son phấn nữa nhé, nhưng chả có ma nào dòm, nói gì đến phim của các bà. Định tìm Thào Chớ để căn vặn thì Thào Chớ lẩn như cáo. Thế là xong chương trình hai tiếng chiếu phim tài liệu. Thào Chớ thì thầm vào vai Páo:
– Thế tao hỏi mày, mày thấy phim có hay không? Mà bắt bà con xem?
Páo cũng thì thầm, vì sợ cán bộ ngoài huyện hội và các trưởng bản khác nghe được:
– Hay mà!
Tháo Chớ gắt khẽ.
– Hay cái con khỉ, cái cảnh tảo hôn, đầy rẫy ra, đâu chả có mà xem. Ma túy nữa, ôi dà, nguyên cái Mùa Sán này cũng chục đứa nghiện lòi xương. Còn đẻ nhiều đẻ ít, đứa nào đẻ đứa ấy nuôi, chiếu mãi cũng thế thôi. Nói tóm lại là ta thất bại!
Páo vớt vát:
– Phải có cách nào dụ họ đến xem chứ?
Thào Chớ cười khì khì:
– Phải làm cáng, đến từng nhà cáng chúng nó đến xem. May ra. Mà đến rồi, xem mấy cái thứ hôn hít này, bọn đàn bà lại chẳng xấu hổ mà bỏ về hết!
Páo ngượng tím hết cả mặt khi một chị cán bộ túm được và bắt Páo giải thích về cái sự vắng vẻ thế này. Páo ấp úng:
– Chắc là tại rét quá và đàn bà con gái Mùa Sán ít khi ra đường vào buổi đêm thôi!
Chị ta lắc đầu một lúc rồi thở dài:
– Tôi nản quá chú ạ. Thế này, bảo sao dân Ngải Thầu không lạc hậu, nghèo đói. Chúng tôi ưu ái Ngải Thầu thế nào thì cậu cũng biết mà!
Páo gật như bổ củi:
– Vâng, vâng, chúng em biết mà, để chúng em rút kinh nghiệm!
Thào Chớ kéo cái tai Páo xuống:
– Em em gì, mày em thì em, chứ sao lôi cả tao vào chúng em? Nản thì bà ấy biến luôn đi, sao còn đến đây hành anh em mình. Rút kinh nghiệm gì nữa chứ. Phim không xem thì vẫn còn nguyên đấy cho các bà mang về, chứ có mất đi đâu.
Đấy chiêu đãi mà còn ế đấy. Phim với chả ảnh…
Thào Chớ làm một tràng xong thì lủi mất.
* * *
Páo đợi Sử lâu lắm. Gớm, sốt ruột cứ như chầu vợ đẻ. Tự nhiên lại vướng vào cái nạn phim ảnh thế này. Sử mở cửa phòng ra là Páo đã lao ngay vào, cuống quýt trình bày như sợ Sử bận việc lại đi ngay mất. Rồi Páo cứ đứng trước mặt
Sử gãi đầu gãi tai, chứ không ngồi. Thì buổi sáng, Sử là người đến ủy ban sớm nhất rồi đấy. Nghe xong, Sử gõ gõ cây bút bi xuống bàn. Một lúc sau Sử nhìn Páo tủm tỉm cười. Páo càng sốt ruột. Cực chẳng đã mới phải trình lên Sử việc này vì Páo biết Sử cũng bù đầu với công việc. Sử đứng dậy, mở cánh cửa tủ bằng gỗ, lôi ra một chồng đĩa phim chưởng Tàu. Liếc qua, nào là Thần Điêu Đại Hiệp, nào là Hàng Long Thập Bát Chưởng, Thái Cực Tôn Sư. Páo ngạc nhiên, nói khẽ, cứ như đang ở bãi chiếu phim.
– Ấy chết, mấy bà huyện hội phụ nữ ngồi hết ở đấy, sao mình dám gạt phim tài liệu ra?
Sử bật cười:
– Ai bảo cậu là không chiếu phim tài liệu? Cậu cứ đem về đi, nhớ là xen kẽ hài hòa. Chiếu phim vào đợt này là đúng đấy, vì đồng bào ta nghỉ sớm ăn tết, lại nông nhàn!
Páo bán tín bán nghi nhìn Sử. Thấy Sử cười càng tươi thì Páo ôm mấy cái đĩa về mà bụng vẫn run run lo lắng.
Chiều tối hôm ấy, Páo khởi động ngay bằng cái đĩa Thần Điêu Đại Hiệp và kích loa lên thật to. Nghe tiếng nhạc phim chưởng, bà con bồng bế nhau, rồng rắn kéo về bãi chiếu từ lúc trời còn chưa kịp tối. Trời đất, Páo chưa từng thấy dịp nào bà con Ngải Thầu lại tụ tập về đây đông đủ thế này. Đông ngang với chợ phiên ngày tết. Páo phấn khởi quá, tim đập thình thịch như cái đêm trước hôm cưới vợ ấy. Có những khuôn mặt mà dẫu ở chung một bản cũng phải mấy tháng giờ
Páo mới nom thấy. Nhà nhà dắt díu nhau đi. Theo đúng kế hoạch mà làm thôi. Cứ một đoạn phim chưởng, lại đến một đoạn phim tài liệu. Bà con say sưa, ngoan ngoãn ngồi xem hết chương trình dù gió lộng tới ù ù, thi thoảng còn cuốn cả cát, lá khô và cỏ khô tung hê lên trời rồi tãi xuống đầu bà con. Chưa kể sương mù từng lớp từng lớp đùn dưới lòng khe lên. Mặc kệ giá rét, mặc kệ sương mù. Gần mười một giờ đêm rồi mà bà con ngồi dưới vẫn hô to.
– Chiếu phim nữa đi!
– Chiếu nữa đi!
– Nữa đi!
Páo cầm mấy cái đĩa phim lên, cay đắng đến ứa nước mắt. Bên Kiều A, người ta đã dụ dỗ bà con Mùa Sán mình bằng cái này đây. Tội nghiệp bà con mình, đói văn hóa phim. Cơn đói mang tên thập kỉ, thế kỉ thế này. Đã nghiến ngấu hết số phim tài liệu của cả hai đêm đầu tiên rồi mà vẫn đòi xem nữa. Mấy hôm rồi, cột điện đã kéo về ngổn ngang. Nhưng bao giờ điện mới về với bà con đây. Đám đông giải tán lúc mười một giờ đêm mà vẫn còn háo hức, tiếc nuối vì bộ phim còn dang dở. Thào Chớ lên loa phát rằng tối mai chương chình vẫn tiếp tục phục vụ bà con xem phim. Bà con vui lắm. Thào Chớ nói toáng lên bên tai Páo:
– Thằng Sử nó khôn thật đấy!
Páo không nói gì, loạng choạng tìm kiếm cây đèn pin. Nhưng không thấy đâu. Quỷ quái, đứa nào còn dám rút cả đèn pin của phó trưởng công an xã? Thế đấy, có là cái gì đâu mà. Nhưng thôi, mừng quá, sướng quá, bỏ qua cho cái đứa nào dám nhờn thế.
Páo mò mẫm lên cổng, vào sân, vào nhà vì không có đèn pin. Người cứ nóng bừng bừng lên thế nào ấy. Giờ này, ở nhà, chắc Sử cũng biết. Chắc Sử cũng mừng lắm. Lâu quá rồi mới có một đêm đông ấm áp đến thế này. Đêm ấy, bọn trẻ con cứ rì rầm kể chuyện phim, Páo phải quát lên mấy bận chúng mới im đi để ngủ. Bà già, mẹ Páo, nằm trong buồng cũng giở mình, trằn trọc. Nằm từ tối đến giờ cũng đau hết cả người. Bà lên tiếng:
– Hay thế à? Mai bố mày coi nhà cho tao đi xem cái phim. Cả chục năm rồi có được xem gì đâu?
Giọng nả chất đầy sự thèm khát, tiếc nuối pha chút trách móc. Páo thấy thương nả quá, nói với vào:
– Được rồi, mai nhà ta ăn cơm thật sớm, vì bảy giờ đã chiếu rồi, nả nhớ nhé!
Sau buổi chiếu phim thành công. Những đối tượng nghiện ngập ở Ngải Thầu tỏ thái độ phản đối rõ rệt. Vì chúng bị bố mẹ, vợ con nhắc nhở nhiều. Chúng nó tụ tập nhau lại, bàn cách phá rối. Tối hôm ấy, Páo đến bãi chiếu phim, rảo qua một lúc, yên tâm thấy có ba công an viên theo phân công đã ở đó rồi. Mọi thứ đã ổn định thì Páo về qua nhà. Vì mẹ Páo cũng đòi đi xem nốt chỗ phim dở. Ngồi nhà, tiếng nhạc phim vừa vang lên bỗng nhiên tắt phụt. Tất cả im phăng phắc.
Điện đóm, loa đài trục trặc gì chăng? Hay là?… Páo vội vàng vớ cây gậy gỗ chạy xuống bãi chiếu phim. Qua những ánh đèn pin loang loáng chiếu vào mới biết chiếc loa bị kẻ nào đó giật xuống, đập bẹp dưới đất. Sử đang ở đó. Anh trấn tĩnh bà con trật tự. Phim sẽ được tiếp tục chiếu vì đã cho người về ủy ban xã lấy loa. Chưa kể, phía góc sân, ba thanh niên người Ngải Thầu bị trói quặt tay ra sau và bốn năm công an viên đang giải về ủy ban. Thấy Páo tất tả chạy lại. Sử trách nhẹ:
– Lẽ ra, đêm nay cậu phải có mặt ở đây.
Páo cúi đầu biết mình sơ sót, lại hỏi:
– Sao anh kịp thời có mặt?
Sử nói:
– Đêm trước, mọi việc suôn sẻ, đêm nay, cậu nghĩ kẻ xấu sẽ để yên cho chúng ta sao? Vì thế, từ chiều tôi đã huy động thêm các anh em ở các thôn đến để đảm bảo an ninh trật tự cho buổi chiếu. Ai ngờ, vừa mới bắt đầu chúng đã giở trò, may mà chúng tôi vừa kịp đến.
Páo lấy làm ân hận lắm.
Đêm ấy, bà con xem đến hơn mười một giờ mới dừng lại. Cán bộ huyện còn hứa sẽ thường xuyên tổ chức chiếu phim, phục vụ bà con. Thào Chớ lũi cũi đi, không bình phẩm gì cả. Gần đến chỗ rẽ về nhà Thào Chớ mới nói:
– Mày có thấy sợ thằng Sử không? Gì nó cũng biết!
Páo không nói gì cả. Lần này thì Páo biết Thào Chớ thực sự đang nghĩ gì.
Thào Chớ về nhà, bực bội, đá phăng cái gùi của ai đó để ngoài hè. Cái gùi lăn lông lốc, mấy quả bí nương văng ra sân.
Thấy chồng cáu kỉnh, Máy nhanh chân chạy vào nhà, rót đầy một cốc nước lá cây đưa cho chồng. Thào Chớ làm một ực, liệng cái cốc vào đám lá ngô để dành cho ngựa. Chùi mép xong thì quát đám cháu:
– Chúng bây biết đếch gì mà xem với xét, toàn phim người lớn!
Đứa cháu nội gần chục tuổi sợ ông nên không dám nói gì nhưng nhìn mắt nó là biết nó đang háo hức lắm. Thằng Sử thật là ghê gớm. Ai bày cho nó cái cách rủ rê bà con tới xem phim thế nhỉ? Cứ bảo nó đi học hành toi cơm đi. Ngọn đèn dầu tù mù, bỗng nhiên bấc nổi hoa ba cánh đỏ chót rồi muốn lụi. Thào Chớ thổi phù một cái, đèn tắt, hơi dầu chưa cháy hết chui vào mũi thật khó chịu. Thào Chớ ngồi im lìm như con hổ rình mồi bên bờ suối đêm. Trong buồng đứa con dâu cả, mấy mẹ con nhà nó đang rì rầm kể chuyện phim. Rồi buồng hai đứa con gái cũng thế, cứ như là vừa đi hội cướp được còn về không bằng. Mẹ kiếp, toàn là trò lừa đảo. Thào Chớ đã tính chuyện cho hai thằng công an nửa mùa một bữa bẽ mặt với ủy ban rồi. Vậy mà tình thế đảo ngược. Thua keo này tính kế khác. Thào Chớ xòe hai bàn tay với những cái ngón ngắn chủn đầy chai ra trong bóng tối rồi nắm chặt vào nhau như tự mình thỏa thuận với mình một điều gì đó vô cùng hệ trọng. Mẹ kiếp, chúng mày đã muốn vượt mặt ông thì ông cũng cho chúng mày biết cái giá của cái trò vượt mặt ấy.
Páo mừng không ngủ được. Cứ tưởng là thất bại rồi, hóa ra lại thắng lợi rực rỡ. Páo không ngờ rằng bà con lại đến xem phim tài liệu đông đến như thế. Ngay cả những thôn xa nhất bà con cũng kéo đến xem. Nhìn cái đoàn người đứng ngây ra tiếc rẻ khi kết thúc chương trình mà Páo muốn chảy nước mắt. Cái nhu cầu được xem phim của bà con rất lớn, vậy mà bao nhiêu năm, bao nhiêu ngày tháng, lãnh đạo huyện không nghĩ ra. Cứ tuyên truyền, giáo dục suông, thiếu hình ảnh, làm sao bà con tiếp thu và vận dụng được. Thắng lợi này thuộc về bao nhiêu đoàn thể, trong đó công đầu là thuộc về hội phụ nữ huyện. Páo cứ nôn nao, phiêu diêu trong cái sự tưởng tượng về những buổi chiếu phim tiếp theo. Buổi chiếu phim giống như một cơn mưa tươi mát tưới vào những tâm hồn cằn cỗi khô khát, giống như chiếc áo khoác rực rỡ trùm phủ lên cái cơ thể nhếch nhác khó khăn. Khiến con người ta tự tin hơn, rạng rỡ hơn.
Chẳng riêng Páo, mà vợ con Páo cũng không ngủ được. Nhất là bà mẹ già. Cả đời lam lũ khổ ải, lấy chồng sớm, sinh con sớm, ốm nhẹ thì uống thuốc rễ cây, lá cây, ốm quá thì gọi thầy cúng. Chả ai nói cho bà biết rằng lấy chồng sớm như thế là thiệt thòi, là bị tước quyền bình đẳng khi không có hôn thú, cúng như thế là tốn tiền mà không đuổi được bệnh.
Chẳng ai nói cho bà biết rằng trẻ con Mùa Sán đang đối mặt với bao nhiêu căn bệnh tiềm ẩn vì thiếu thứ nọ, thứ kia do nguồn dưỡng chất từ thức ăn không đủ…Hôm nay phim nói hết. Phim còn đưa đến những hình ảnh để bà con tự so sánh và rút ra bài học. Bà trằn trọc mãi rồi im lặng để cho con cái ngủ. Người già là nguyên nhân đẩy con trẻ vào nạn tảo hôn. Chiếu phim mà gọi người già đến xem được là coi như đã thành công rồi. Bà thấy tự hào về thằng con trai cả của bà lắm. Nhà nghèo, nó học hết lớp bẩy ngoài huyện phải về nhà làm nương giúp bố mẹ nuôi các em. Nhưng trời cho nó cái trí thông minh, sáng láng và lòng kiên nhẫn. Cả cái tính thương người nữa. Ai chê con bà thế này thế nọ, bà mặc kệ, bỏ ngoài tai hết. Con bà đẻ ra, bà biết chứ. Nó là người tốt, là chỗ dựa vững chắc của cả cái họ Tráng ở Mùa Sán này đấy. Trước những khó khăn, nó không dễ gì mà bỏ cuộc đầu hàng, trước những cạm bẫy, nó cũng đâu dễ gì mà gục ngã đâu. Phải cái, tính nó lầm lỳ, ít nói, nên nhiều khi người ta không hiểu được lòng dạ nó. Đêm đầu tiên chiếu phim thất bại.
Nó về hỏi bố mẹ có cách nào không. Ôi dà, sắp xuống lỗ rồi, có biết phim ảnh là gì đâu, và phim nhà nước là thế nào, cũng có ai biết mà khuyên con. Cả đêm nó không ngủ, lục đục ra vào, rồi mới sáng sớm đã vội ra ủy ban. Đi ủy ban về thì nó tươi tỉnh hẳn. Nghe đâu nó gặp cán bộ Sử. Bà ăn cơm gạo, hưởng tuổi của trời đất hơn sáu chục năm rồi bà biết nhìn người chứ. Cái anh Sử ấy, người lành hiền và có đức đấy. Chỉ nghe giọng nói và nhìn vào cái mắt người ta là biết thôi à. Trong số những khách ủy ban vào thăm Mùa Sán, qua trò chuyện là bà biết ngay người nào thật bụng với bà con, kẻ nào chỉ ngọt ngào làm vui câu chuyện. Páo thường dặn bà. Mẹ biết gì, nghĩ gì cũng để trong bụng, đừng nói ra người ta cười cho đấy. Ai cười người già chứ. Bà vẫn hay nói với các con và các cháu của bà là phải học tập Páo, phải làm người có ích cho dân bản, cho cộng đồng.
Páo vùng dậy, hút hai điếu thuốc lào nữa rồi mới lên giường. Chưa kịp nhắm mắt thì đã thấy tiếng con gà rừng gáy te te trên nương. Do trời rét, gà còn gáy muộn đấy. Páo nằm nấn ná thêm một lúc nữa rồi dậy nhóm bếp. Páo có thói quen này lâu rồi. Cứ không ngủ được là dậy nhóm bếp, ngồi bên lửa. Chẳng nấu gì, nướng gì cả, chỉ cần ngọn lửa làm ấm cái suy nghĩ vừa được nhen lên mà thôi.