ÂM BINH VÀ LÁ NGÓN: CHƯƠNG 3

Ai lên Mường Thàng vào mùa khô hanh cuối năm sẽ gặp những con suối phơi đáy trắng sỏi. Những thửa ruộng bậc thang xác xơ gốc rạ. Những con đường đất, bụi bay bời bời sau vó chân ngựa. Và bầu trời xanh im lìm như ngẫm nghĩ về cái điều mà cả tháng nay vẫn thế. Mưa. Chẳng có mưa đâu. Dù thi thoảng mây đen có diễu qua. Thi thoảng tiếng sấm có thoảng tới. Thi thoảng gió có cồn quặn. Cả tháng rồi chưa có hạt mưa nào. Người ở trong thung lũng còn nhìn thấy nước, chứ người trên Ngải Thầu phải đi tìm nước xa lắm. Vào mùa mưa, khe Pá nước tung bọt như bờm con ngựa trắng bay gần đến cửa nhà trời thì dừng lại. Ấy thế, mùa khô, con ngựa bay thẳng lên trời, chẳng buồn dừng hay ngó ngàng tới Mùa Sán. Cũng may, cuối năm, trời đất Mùa Sán lạnh, người ta ít đòi hỏi hơn về nước. Nước ăn thôi đã hiếm, còn tắm giặt nữa, khổ lắm. Tìm nước ăn từng bữa như tìm gạo, tìm rau.

Páo vừa tắm xong. Gớm, cả chục ngày mới được tắm, người như nhẹ đi cả mấy cân, dễ chịu thật. Đang lau tóc ở sân. Thấy tiếng la hét tận dưới đường, rồi tiếng người gọi tên Páo. Páo khoác vội cái áo vào người, vừa chạy vừa lần tay cài cúc. Mùa Sán phần lớn là người Mông, lác đác là vài hộ người Thu Lao, Pa Dí và Giáy sống ở rìa bản, nơi thấp hơn. Páo chạy xuống thì thấy khói lửa bốc lên ở nhà lão Uông. Lão Uông này…Thật là. Còn chưa kịp nghĩ gì thì Páo đã rẽ những người già, những phụ nữ ra mà lao vào. Cái bếp nhà lão Uông mục nát quá, tự nhiên, gió mới khẽ tạt qua, trêu ghẹo tí đã đổ ụp xuống. Nhà có mấy ông cháu đang sưởi lửa. Thế là lửa bén lên. Lôi được bốn ông cháu ra thì ngọn lửa cũng bùng lên dữ dội.

Ở Mùa Sán, nước uống còn hiếm thì lấy đâu nước dập lửa. Mấy cái cành cây xanh mà bọn phụ nữ khua khoắng nào có ăn thua gì so với ngọn lửa mùa khô lại được gió tiếp tế sinh lực. Nguy cơ là lửa sẽ lan sang nhà lớn. Páo hô hào mọi người chạy vào nhà ông Uông xem có tài sản gì đáng giá thì khuân ra. Mà cũng chả có gì ngoài mấy cái chăn màn rách, cái phích, ít quần áo cũ và cái giường thọt một chân phải kê bằng đá. Mấy đứa đàn bà nói vút đuôi sau khi không có cách gì đuổi được ngọn lửa.

– Thôi, nhà cũ quá rồi, cho lửa ăn thôi!

Chả thôi cũng chả được.

Ông Uông ngồi tệt xuống đất mà khóc. Khóc không ra nước mắt. Nhà có độc thằng con trai thì đi tù vì đánh người suýt chết. Con dâu thì từ hai năm trước đã bỏ ba đứa con cho ông mà đi đâu mất tích rồi. Rau cháo, bữa đói bữa no, cuộc sống cơ cực thế mà ai có hỏi về con ông vẫn lạc quan:

– Ấy, bố chúng nó sắp về. Mẹ nó rồi cũng về thôi, đi thế nào được mãi.
Giờ thì đố mà lạc quan được nữa. Páo đứng chết lặng nhìn ngọn lửa hung hăng thè lưỡi liếm sang mái nhà lớn lợp cỏ tranh. Gọi là nhà thì cũng có hai gian nhà vách nứa mái tranh cũ nát thôi mà. Bếp chẳng qua là cái chái nhà chài ra tạm bợ. Trong đầu Páo đã lại nghĩ đến chuyện đi vận động bà con giúp đỡ ông Uông mỗi người ít cây que dựng lấy cái chỗ chui ra rúc vào. Việc này phải bàn với trưởng bản đã. Páo nhìn mình mẩy nhọ nhem thì thấy tiếc can nước tắm, bèn đi về nhà đã.

Vợ Páo nhìn Páo chằm chằm một lúc như nhìn con lợn đằm bùn rồi chạy tót vào nhà, lấy cái gương con, chạy ra, đưa cho mà soi. Páo ngại ngùng cầm cái gương lên. Trong gương là một thằng quỷ đực nhọ nhem, gớm ghiếc. Páo bật cười. Còn vợ Páo thì chỉ tủm tỉm. Chắc là còn tiếc can nước. Cũng chả còn nước đâu mà tắm lại. Páo đành lau mặt mũi và người ngợm qua loa rồi thay quần áo ra, mặc bộ khác tinh tươm vào.

Sang nhà Thào Chớ. Chớ nói luôn như hắt thêm gio vào mặt:

– Lại cứ sỹ diện, năm ngoái chủ trương của xã cho Mùa Sán ba suất hỗ trợ làm nhà, mỗi xuất ba triệu thì giẫy nẩy lên là chưa cần làm, nên xã cắt, chuyển sang hộ khác. Cậy có mấy củ tam thất bán, năm nay của Kiều A rẻ bèo ra kia kìa.
Biết rồi, năm nay tam thất rẻ, rẻ bằng phần ba năm ngoái, năm xưa. Nhưng đâu phải nặng lời với người ta thế. Páo thở dài:

– Thì đấy là tôi nói với ông thế. Chứ giờ để người già với trẻ con nằm ngoài đường à?

Thào Chớ liếc Páo, không nói thêm câu nào. Sao bỗng nhiên cái Mùa Sán này lại lọt vào dăm cái nhà Thu Lao rách rưới này chứ, mà toàn cảnh ẩm ương.

Đêm ấy hai người lại đi suốt đêm và sáng hôm sau thì bà con kéo đến giúp đỡ. Đến cuối ngày thì hai gian nhà ngoãm lợp dát nứa, vách nứa, cột kèo tre cũng hoàn thành. Ngẫm ra bà con ở đây vẫn còn thương nhau lắm. Chỉ tội, nếu không có người hô hào, vận động thì họ cứ ỳ ra đấy. Làm suốt ngày không hết việc công mà vẫn bị chê trách. Đấy là câu nói mà Thào Chớ nói chung cho cả hai người, Páo và Thào Chớ. Tết đến nơi rồi, toàn những việc không đừng. Người thì ngứa ngáy, nhặm nhuội, đã khó chịu thì chớ. Lại có cái đám đánh nhau gọi đến công an. Từ ngày Páo lên phó trưởng công an xã, Mùa Sán vận động mãi chưa có ai chịu làm công an viên nên Páo phải làm tất, lại tuần năm buổi ra xã giúp cho Sử và ủy ban nữa chứ. Mấy lần Thào Chớ gợi ý để thằng Sùng làm công an viên nhưng Páo gạt đi, vì cái thằng Sùng lười chảy thây ra, lại còn nghiện rượu nữa. Làm sao được mà làm. Thào Chớ bực mình. Thì mày ôm tất lấy mà làm. Páo hỏi vợ:

– Đứa nào lại đánh nhau cái lúc này hả?

Vợ bảo thằng Đên với thằng Don. Páo vội chạy đến. Thì ra vạt ngô nếp nhà Don ở cạnh vạt ngô tẻ nhà Đên. Khi thu hoạch, thấy ngô nhà mình, hạt nếp lẫn hạt tẻ, Don mới lời ra tiếng vào. Đên cứng cổ bảo:

– Đã thế vụ sau tao mang giống ngô hạt tím về trồng để ngô nhà mày hạt tím hạt trắng bán chẳng ai mua, chỉ cho lợn ăn.

Thế là tức, xông vào ẩu đả nhau. Can hai con gấu đực ấy xong thì mệt nhoài, người vã mồ hôi và khô hết cả cổ.

Chiều hôm sau, vừa ở ủy ban xã về, người đang phờ phạc vì kiện cáo đất cát ngoài xã. Páo nằm lăn ra giường không buồn nhúc nhích, cựa quậy. Vợ Páo phải tút hai cái giầy ra khỏi chân Páo và lấy cái ghế gỗ kê cho Páo để chân lên. Chứ cứ thò chân ra thế, mỏi lắm. Ấy thế mà Páo thiếp đi trong cái tư thế nằm oái oăm đến cả tiếng. Đến khi thấy vợ lay thì Páo tưởng vợ gọi cơm nên uể oải:

– Cứ ăn trước đi!

Vợ Páo nói tướng lên:

– Ăn đâu mà ăn. Dậy đi, người ta chết rồi kia kìa!

Páo vội vàng ngồi dậy. Thấy đứa con gái nhà Xuy mếu máo đứng cửa. Ơ hay. Sao ăn lá ngón cũng gọi Páo. Páo có phải là bác sỹ đâu. Nhưng Páo cũng chạy đi. Vì công an là phải biết nông nỗi gì khiến người ta ăn lá ngón chứ. Nhà Xuy thì Páo lạ gì. Thằng chồng cờ bạc tối ngày bên Kiều A, xã gọi lên chấn chỉnh nhiều rồi đâu vẫn vào đấy. Lúa bán đằng lúa. Ngô bán đằng ngô. Vừa rồi còn cắp cả thằng con út bảy tuổi sang bên kia sông bán cho người Dao nhưng người ta chê to quá và khôn quá rồi không mua, lại đem về. Đã thế còn sinh sự, đánh vợ vì cho rằng chị này mượn thầy cúng về cúng cho chồng chết. May mà nó không chết nhưng của đi thay người, thua trắng tay, sạch bách. Chị này định chết cho hết cái kiếp khổ. Cũng may là ăn chưa đủ lá nên còn cứu được. Nghe nói, cái ngày giữa tháng, phải ăn đủ mười lăm lá mới chết. Cũng may là đứa con gái phát hiện ra nên chạy đi gọi người. Khiêng về trạm xá xã thì xa, sợ không kịp. Páo dằn ngửa chị ta ra, sai người đổ nước, rửa ruột theo cách thủ công. Chị ta còn oặc cả nước vào ngực Páo chua lòm.
Páo khật khưỡng, nhăn mày nhăn mặt đi về. Vợ Páo thấy thế hỏi:

– Tùa chi tùa?

Páo gắt:

– Chết đâu mà chết.

Vợ Páo không nói gì nữa. Dạo này Páo nhiều việc nên không vui vẻ với vợ con mấy, hơi tí là cáu bẳn. Mà cũng lạ, lá ngón ăn mà không chết. Cứ thế này, đứa nào còn muốn chết thì phải tìm cách khác mà chết thôi. Bố Páo thì bảo nó không chết là vì ông trời bao giờ cũng muốn người khổ sống lâu.
Chiều thứ bảy, cũng là hai mươi tháng Chạp. Páo đang tranh thủ quét dọn nhà cửa thì Thào Chớ đến. Giọng trưởng bản ngà ngà:

– Có tiền, có tiền tiêu tết đây, chú mày có muốn kiếm không?

– Hỏi rõ hay. Tiền ai chả thích.

Nhưng mà…nhớ đến cái vụ rắn rết, Páo hỏi kĩ là tiền gì mới làm. Thào Chớ khề khà, như quên bắng cái việc mặc cả trước đó. Rằng để chuẩn bị đón tết cổ truyền, đồn biên phòng phát động chiến dịch làm vệ sinh toàn diện hai xã Hoa Long và Ngải Thầu với tổng số hai mươi bốn bản trong đó có Mùa Sán. Vệ sinh nhà cửa, chuồng trại thì dễ. Nhưng cắt tóc cho trẻ con, đàn ông người dân tộc, không phải ai biết cầm kéo là có thể đè ngửa con người ta ra mà cắt đâu. Vì chẳng đầu nào giống tóc nào, chẳng phong tục nào giống phong tục nào. Mấy cán bộ biên phòng tuổi còn trẻ lại phải cậy đến trưởng bản. Mà Thào Chớ thì đi đám cưới về say quá. Với lại năm chục rồi, mắt mũi lem nhem, tóc chả cắt lại cắt phải tai trẻ con, lấy gì mà đền. Nói rồi Thào Chớ chỉ cái bát bọn trẻ con uống nước xong, úp trên cái nắp ấm đen sì mà nói:

– Cắt đi, úp cắt, úp cắt thôi mà, kiếm thêm tí phụ cấp, chứ chú mày làm chó gì có lương như thằng Sử mà chê.
Páo chần chừ, lưỡng lự một lúc rồi gật đầu. Chẳng gì biên phòng cũng có công với dân Ngải Thầu, giúp một tí cũng chẳng sao. Thế là ba ngày Páo cầm kéo rã rời cả tay vì vừa cắt vừa mài kéo. Bọn trẻ con dễ có cả mùa đông chả tắm gội, tóc chúng cứng đơ, bết lại và rậm rạp như thổ phỉ. Mỏi đã đành, nhưng khổ là tóc vụn bay vào người, ngứa, gãi cả đêm không ngủ được.

Páo đứng dựa lưng vào một cái gốc cây bên khe Pá, sốt ruột nhìn nước són sén chảy từng giọt vào miệng can. Ở Ngải Thầu, mùa khô hanh, nạn thiếu nước nghiêm trọng, mà Mùa Sán lại là thôn bản đặc biệt khó khăn về nước ăn uống và sinh hoạt. Cả tuần rồi Páo chưa tắm, người ngứa ngáy rất khó chịu. Hôm nay nhất định phải tắm. Đầu tuần trước, Páo là người dẫn đường đưa hai cô cán bộ của phòng giáo dục huyện lên thăm Mùa Sán. Đi được hai cây số là Páo không dám đi gần người ta nữa rồi. Mùi mồ hôi chua lòm. Chẳng biết người ta có thông cảm cho không. Chầu chực chờ đợi hai tiếng đồng hồ, Páo thồ về được hai can nước.

Từ khe Pá đi xuống, phải qua nhà Chinh, nhà Đái mới về đến nhà Páo. Kể từ hôm bị mất vợ, mà chính xác là từ hôm ở đám rượu nhà Chinh, Chinh toàn tránh mặt Páo. Chuyện Mỷ mất tích, Páo đã báo cho Sử. Sử và hai công an trên huyện đã về để lấy lời khai và làm các thủ tục cần thiết rồi. Họ vẫn đang tìm đấy chứ. Sử dặn Páo là phải để ý đến những thông tin từ phía quần chúng, dù là nhỏ nhất. Mỷ mất tích cả tháng nay rồi, mấy phiên chợ Ngải Thầu, đàn bà con gái đến chợ ít hẳn. Mà có đi thì cũng phải có chồng con đi cùng.

Hầu hết trẻ con ở Mùa Sán đã được cắt tóc và tắm gội sạch sẽ. Vì chỉ gần chục ngày nữa là tết. Đào đã nở rồi kìa. Đi qua con đường mòn cạnh sân nhà Lý Chinh, trời đã nhá nhem, thấy hai đứa trẻ bốn, năm tuổi, mũi dãi đầy mặt, đầu đầy đất cát, quần áo bẩn thỉu đang mếu máo ngóng mẹ. Tóc vụn vẫn bết trên trán chúng từ ba ngày trước. Páo dừng lại hỏi.

– Bố đâu? Chị đâu?

Hai đứa bé lắc đầu. Những đứa trẻ vắng mẹ nhìn Páo như bấu víu. Páo hạ thồ nước trên vai xuống. Nhìn chum, chum cạn. Nhìn ấm, ấm lăn lóc ngoài hè. Đúng lúc ấy thì đứa lớn trạc tám tuổi ở đâu chạy về. Páo đổ can nước hai mươi lít vào chum và bảo nó đun nước tắm cho các em. Thấy cái chum vẫn vơi, Páo chần chừ một lúc rồi lại lấy can mười lít đổ thêm cho đầy. Con bé lớn gật đầu, mỉm cười thay cho lời cảm ơn.

Thấy Páo mang về chưa đầy chục lít nước. Vợ Páo không nói gì nhưng nét mặt không vui. Nó vùng vằng cầm cái can to ngoay ngoảy định đi. Páo ngăn lại:

– Tối rồi, không kịp đâu, nước chảy chậm lắm. Để mai lấy ngựa đi khe Phạ mới được.

Vợ Páo cứ bước ra cổng. Páo quát:

– Muốn nó bắt đi như con Mỷ không hả?

Vợ Páo khựng lại, quay về nhà. Nhiều lúc, chuyện nước nôi cũng khiến nhiều gia đình lục đục. Đợi vợ rửa ráy cho con út xong, Páo mới nói:

– Tôi thấy Chinh không có nhà, hai đứa lớn cũng không có nhà, bọn trẻ con hớp nước không có uống, mặt mũi, người ngợm bẩn thỉu, tết đến nơi rồi. Bụng nào mà mang hai can nước về qua, nếu là mẹ mày, mẹ mày có làm được thế không?

Vợ Páo im lặng.

Páo lại nhớ, đầu tháng trước, chớm mùa khô, dân xếp hàng trên ngọn khe Phạ để săn nước. Nước khe Phạ chảy to hơn khe Pá nhưng lại ở xa hơn, người ta phải dắt ngựa đến đó để lấy nước về. Tranh nhau hứng nước rồi dẫn đến ẩu đả. Một thằng làm bừa, hót cả phân ngựa đổ xuống nguồn nước. Người ta sợ bẩn, bỏ hết sang khe Pá, thế là nó tha hồ hứng. Khe Pá ít nước và nước chảy ra từ một ngách của hang Đung Đeng. Bên này cũng ít người hơn nên ít xảy ra cãi vã. Tuy nhiên, một buổi chiều, có người báo tin nước khe Pá đỏ như máu người. Páo cũng phải đến tận nơi xem thế nào. Thật lạ, nước chảy ra, đỏ như máu tuy nhiên không có vị tanh. Páo lội lên ngọn khe thì thấy nguyên nhân của dòng nước đỏ ấy là một bịch phẩm màu khá lớn đặt ngay lối đi của dòng nước vốn đã nhỏ. Không biết vô tình hay cố ý nhưng chắc chắn là độc hại. Tự tay Páo lại phải dọn cái đống phẩm màu đó đi để làm sạch nguồn nước.
Thiếu gạo, con người ta còn tìm được những thứ củ, quả, hạt trên rừng để thay thế, để qua cơn đói, nhưng thiếu nước thì không có gì để thay thế. Không được tắm táp, con người con của sinh ra bệnh tật, ghẻ lở. Rau màu, ngô lúa thiếu nước thì nghẹn đòng, chột lá, rồi hết khô. Cả mấy tháng trời ăn măng chua thay rau xanh, da mặt ai nấy bủng beo. Nhiều nhà bảo, nếu cứ thiếu nước thế này thì phải bỏ nhà cửa, bỏ bản mà đi thôi. Mỗi năm Mùa Sán thiếu nước khoảng ba tháng. Páo đã bàn với bà con việc xây bể để hứng nước mưa dự trữ, được ngày nào đỡ ngày đó. Nhưng cái ăn, cái mặc còn thiếu thốn, lấy gì mà xây, mà kiến thiết. Thiếu thốn, con người sinh ra nhỏ mọn, bần tiện và tính toán với nhau chi li hơn. Thay vì cả nhà cùng đi làm thì giờ nhà nào cũng phải cắt ra một lao động đi hứng nước. Gần thì một cây số, nhà xa thì phải bảy tám cây số dốc đá cheo leo. Làm con ngựa xứ này cũng khổ chứ chả riêng con người. Rồi thì cãi vã, tị nạnh hơn thiệt. Rồi thì ghen tuông. Mày ngủ trên ấy với thằng nào mà giờ mới đem được mấy hạt nước về…Quần áo không có nước giặt, cứ phơi lên đá, đập mấy cái cho bay bụi bẩn và hơi mồ hôi lại mặc vào. Làm cán bộ giữa một vùng dân cư toàn là đồng bào mình, toàn đói khổ, thiếu thốn, ai nỡ nào mà mạnh chân, mạnh tay với nhau, mà giằng bát cơm trên miệng con người ta. Nhưng quy định đã thế rồi. Bà con chỉ vì cái lợi trước mắt mà không biết rằng mình đang bị lợi dụng, bị phá hoại, bị đẩy thêm vào đói nghèo, tăm tối.

Có những cuộc họp ở ủy ban. Cán bộ xã đề nghị mở hết cửa sổ cho thông thoáng rồi bật quạt, cho dù trời cuối thu không còn nóng nữa. Vì mùi mồ hôi người cứ nồng nặc bốc lên cứ như có đàn ngựa hoang vừa lồng qua. Một tay cán bộ tư pháp người Sín Chải, có cái bể nước mưa to, mời mấy ông bạn ở ủy ban về uống rượu và chiêu đãi mỗi ông một chầu tắm đến cạn sạch bị vợ cằn nhằn cả tuần. Ông chống chế:

– Mẹ mày hay thật, rượu thịt chả tiếc, ai lại đi tiếc nước.

Bà vợ vẫn tiếc nước, nhấm nhẳn:

– Nhưng mà hứng mấy trận mưa mới được, dành để ăn tết.

Trời đất, lại còn để dành nước để ăn tết. Páo mang truyện về kể cho vợ, vợ Páo cứ tủm tỉm cười mãi. Cười người, thế mà chồng mới mang can nước cho bọn trẻ con tắm thì mặt sa sầm. Đúng là đàn bà. Chả bù cho đứa lớn nhà Páo, đang học lớp tám trên nội trú huyện về kể, ở trường, dù ít nước nhưng cô giáo quy định bắt buộc mỗi tuần phải tắm một lần vào trưa thứ tư. Các bạn Tày, Giáy thì tốn nước lắm, nhưng các bạn người Mông chỉ lau qua loa là xong rồi, có bạn còn trốn, không chịu tắm. Vì thế, vào mùa khô, những ngày cuối tuần, con gái về, vợ Páo thường bảo trường mày sẵn nước thì tắm thật kĩ vào, để khi về nhà, tắm qua là được rồi, nhà đi lấy nước xa khổ lắm.

Đang triền miên nghĩ về nước thì Páo nghe tiếng sấm ở đâu đó mơ hồ vọng về. Páo chạy ra sân, đúng là trời tối sẫm, gió đang quần mạnh trên rặng vầu sau nhà. Rồi tiếng sét đánh trên núi Plâu. Chắc là mưa. Sao lại có cơn mưa kiểu này vào những ngày cuối năm thế nhỉ. Mưa lạc mùa kể ra cũng không hiếm, nhưng người già bảo đó là điềm gở. Sấm sét tháng chạp là điềm gở. Gở đâu chả biết. Mới thấy mưa lắc rắc, lộp bộp ở sân, Páo đã vội vàng mang xô chậu, chum, vại ra chuẩn bị hứng nước. Vợ Páo nhìn cái miệng can bé tí thi thoảng mới có hạt mưa thả vào mà tiếc rẻ bảo chồng:

– Cái miệng can bé quá cũng bất tiện.

Páo cười:

– Thế nó rộng quá thì khi cần nút lại, biết nút thế nào?

Thế là hết giận nhau. Páo cởi phăng chiếc áo chàm, chạy ra tắm mưa. Vợ Páo le lưỡi:

– Lạnh lắm

Mưa mỗi lúc một to, cái cơn đằng Tây kéo đến hùng hổ, dồn dập và vốc nước hào phóng ném xuống xứ Mùa Sán khô cháy. Cây cối ngời ngời sung sướng vì được tắm táp, được uống đến thỏa thuê. Chưa đầy hai tiếng thì mưa tạnh. Trời trong veo, phía góc xa lại nhấp nháy những vì sao. Bố Páo bảo:

– Chưa hẳn đã phải là điềm gở đâu vì mưa nhanh đến, nhanh tạnh và trời trong thế này.

Cơn mưa tươi mát khiến lòng người ai cũng dịu đi. Và hơn tất cả là sau mỗi cơn mưa, khe Pá, khe Phạ lại ăm ắp nước cho bà con hứng, không phải chen chúc, đợi chờ lâu. Đứa bé con ngó trời một lúc rồi hỏi mẹ:

– Nhà mình tối nay không có cơm ăn à?

Lúc đó người lớn mới giật mình gọi nhau xuống bếp dọn cơm ăn. Nhà Páo và rất nhiều nhà ở Mùa Sán đã từ bỏ thói quen ăn mèn mén và chuyển sang ăn cơm gạo. Một tuần ăn vài bữa mèn mén cho đỡ nhớ thôi, chứ ăn gạo cũng thấy khỏe, thấy ngon mà nấu lại nhanh.

Đang bữa ăn thì vợ Páo hỏi:
– Tay Chinh đi đâu mà thường xuyên vắng nhà thế? Không biết mưa to thế mấy đứa có biết đường mang chậu ra mà hứng nước?
Páo cười:

– Sao mà không biết chứ, mưa to thế, ai cũng phải chạy về nhà thôi.

Ừ, những bữa cơm ngày mưa bao giờ cũng đông đủ cả. Vì người Mông có lệ là không ra khỏi nhà, không ra nương vào khi trời mưa to. Với người Mông, vị thần nước là vị thần thiêng nhất, được bà con tin tưởng nhất. Sau tết, vào ngày con rồng đầu tiên của tháng, bà con dưới Sín Chải tổ chức lễ hội xuống đồng rất vui, người Mùa Sán cũng xuống đấy góp xôi, gà, rượu thịt để cúng thần nước, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Ra đường vào ngày mưa lớn là cản trở công việc của thần nước. Đó là điều kiêng kị mà người dân vùng này ai cũng biết. Tuy nhiên, với Páo thì khác. Ngày nào, bất kể mưa nắng, có việc là anh lên đường. Anh còn nói chính vì nhiều thứ kiêng kị nên người Mông luôn đói nghèo.