Thào Chớ nghiến răng trèo trẹo, mắt muốn lồi ra. Thằng chó săn. Nhiều lần lên kế hoạch dằn mặt nó nhưng thằng Chinh lại gàn. Mẹ kiếp, giờ thì chắc chắn có ngày nó đem người về tận hang ổ. Tao quyết một phen sống mái với chúng mày.
– Anh em đâu, ra cả đây!
Thào Chớ bước ra gian giữa nhà, đưa mắt nhìn quanh. Tất cả đã đông đủ cả. Gần chục thằng đàn ông, thằng nào thằng nấy lăm lăm gậy và dao trong tay. Một thằng tóc vàng hoe, đầu hói ở hai bên, mặt nhẵn nhụi như cái mông trẻ con, không có tí râu nào, lên tiếng:
– Xử thằng nào trước?
Thào Chớ hất hàm về phía Nam, nơi một nương dứa rộng bát ngát đang tua tủa đơm những búi hoa đỏ chót:
– Thằng Páo chứ thằng nào!
Mấy gã đàn ông rúm người vào, nét mặt căng thẳng. Thào Chớ ra giọng:
– Thế nào? Chúng mày sợ nó hả? Thế lúc chúng mày thò tay ra vơ tiền, chúng mày có run không?
Dừng lại một lúc, Thào Chớ cười nhạt:
– Tao có bảo giết người đâu mà chúng mày sợ!
Rồi Thào Chớ ra hiệu cho đám tay chân tiến lại gần mình rồi thì thầm gì đó. Nét mặt vô cùng hệ trọng.
***
Lẩu ngồi rũ rượi trong bóng tối của cây đèn cạn dầu, thi thoảng mới ngước lên nhìn Páo. Páo hít một hơi thật dài, thật sâu rồi nói:
– Tôi với anh cùng là người Mông, nên tôi nói với anh thêm một lần này nữa thôi. Anh nên ra tự thú. Tội của anh rõ ràng như thế rồi, lẩn trốn cũng không được bao lâu đâu!
Lẩu rụt cổ như con rùa đá chui ra khỏi hang lạnh gặp ánh nắng mặt trời:
– Đừng bắt tao đi đâu cả, tao sợ lắm!
Páo đặt bàn tay lên vai Lẩu:
– Chỉ ra ủy ban xã thôi!
Lẩu run nhong nhóc:
– Biết tự thú thế nào?
Páo chân tình:
– Anh nên nói hết!
Lẩu lắc đầu nguầy nguậy:
– Không, tao chỉ nhận tội bán con Mỷ thôi, còn chuyện bố tao. Ông ấy đã chết rồi, và tao đâu có giết ông ấy!
Páo lắc đầu:
– Không được, đã tự thú là phải thú nhận hết!
Lẩu nhìn Páo như van nài:
– Hay là chú mày đi cùng tao. Tao sợ thằng Chinh nó sẽ lấy đầu tao khi trên đường. Ai mà biết là có ngày con Mỷ lại về được!
Páo gật đầu:
– Vậy sáng mai tôi đi cùng anh!
Páo bước xuống cầu thang thì Lẩu ngồi phắt dậy, tỉnh táo như thường. Hắn tự nhủ, kể ra mình đóng kịch cũng giỏi. Thằng nhãi công an, còn dốt lắm chú mày ơi. Rồi mày xem, khi Thào Chớ đã có chính quyền mới trong tay, cái hạng mày sẽ bị xéo cho bẹp như gián đất.
Páo đi qua cái cửa giống như tổ tỏ vò nhà Lẩu thì nghe tiếng xích leng keng ở bên trong. Páo định quét đèn pin vào trong nhưng tiếng ho yếu ớt của Lẩu ngay ngọn thang làm Páo vội vàng bước qua mà lòng phân vân mãi.
Đợi Páo về một lúc, Lẩu đi xuống nhà dưới, mở cửa, chui tọt vào trong. Đèn vặn nhỏ, tờ mờ. Đủ nhìn thấy May bị trói tay bằng một sợi dây xích vào cột nhà. Lẩu lấy chân đạp vào người May một cái đau điếng:
– Con chó cái. Mày dám đi gặp thằng Đái để hủy đám cưới à? Tao sẽ cho mày nếm mùi nhục nhã khốn khổ như con Mỷ. Những kẻ ngáng chân tao đều phải nhục nhã như vậy. Chứ dại gì tao giết mày? Mày tưởng tao không biết thằng Sáng là con mày với thằng Đái chắc. Còn nhớ cái đêm tao cho người lôi mày vào rừng không? Trong lúc sợ sệt mày đã khai ra là có chửa với người yêu để mong được thả ra. Chính vì tao biết hết mà tao muốn anh em nó lấy nhau để mày chết vì nhục nhã. Tao muốn khi thằng Đái biết sự thật thì chỉ có cách cắn lưỡi mà chết. Hiểu chưa?
May vằng lên:
– Nhưng mày không còn cơ hội làm việc ấy nữa đâu. Tao đã nói hết với cán bộ Sử rồi. Tao đã che giấu tội lỗi cho mày bao nhiêu năm. Mày đã hại bao nhiêu mạng người rồi lại đổ cho âm binh, cho lá ngón. Vợ Đái chết là do mày đấy…
Bốp, bốp…Hự. Tiếng người hộc lên, đổ xuống. Lẩu còn vớ cái giẻ rách lèn đầy vào vào mồm May mới thỏa.
Đêm lại yên tĩnh.
Lẩu bước ra khỏi tổ tò vò, như con tò vò đã hút kiệt nhựa sống của con nhện. Khuôn mặt ác thú vừa hành hạ con mồi ngời ngời vẻ thỏa mãn. Hắn bước lên sàn. Hai đứa trẻ con ngồi im trong xó nhà theo lệnh của hắn từ chiều. Một đứa đã ngủ gật, chốc chốc cái cằm lại cộp vào đầu gối. Nỗi ghen tức hằn sâu, lưu cữu trong người giờ bốc lên ngùn ngụt như đám cháy nương gặp gió. Lẩu chưa giết nó là còn vướng cái suy nghĩ. Chẳng may mọi việc không kiểm soát được, hắn bị thằng Chinh trả thù thì còn có người nuôi hai đứa con. Chứ không, tội mày đáng chết. Lẩu thu dọn mấy bộ quần áo, một be rượu và toàn bộ tiền bạc cho vào một cái túi thổ cẩm khá to rồi ngoắc lên vai. Ra khỏi nhà ngay trong đêm.
* * *
Chủ tịch xã vừa họp trên huyện về, cái xe máy thủng xăm vì đá sắc khiến ông bực bội. Sau khi nghe Sử báo cáo, ông dửng dưng.
– Biết rồi, có gì mà phải nhặng lên. Thằng Chinh đầu thú thì tôi được cái gì? Cậu được cái gì? Còn rách việc thêm vì cái khoản điều cha điều bố. Nó trộm cái đầu lâu chứ có giết người đâu mà? Nói thật nhá, tôi cũng chả thích gì khi mấy ông quần vàng áo vàng trên huyện, ngoài tỉnh cứ lượn lờ ra vào ủy ban đâu. Các ông ấy nhìn đâu cũng thấy tội phạm như bác sỹ soi đâu cũng ra vi khuẩn ấy!
Sử cảm thấy hẫng hụt, cầm quyển sổ bước ra ngoài. Gặp bà chủ tịch hội phụ nữ xã đang tranh thủ soi gương để chuẩn bị bước vào phòng làm việc của chủ tịch. Cái gương quá nhỏ so với gương mặt ngoài sáu mươi đã chảy sệ xuống vì nhiều nếp nhăn. Sử định nói là chủ tịch đang không vui, nhưng lại thôi. Với lại, bà này cũng không ưa gì anh cả. Việc hội viên của bà trình độ thấp, không hiểu biết, cả tin, bị bắt bán, bị lừa đảo, theo như bà đó là lẽ thường, là “không phải việc của chú”. Thành tích của công an bao giờ cũng đi ngược lại với thành tích của các ban ngành khác ở xã. Chính vì thế mà ở ủy ban, Sử nhận được rất ít cảm tình của các vị chức sắc. Chưa kể về thôn bản, bà con còn phân biệt đối xử ngay cả với vợ con anh. Thôi thì, nhiệm vụ là thế, gắng mà làm. Ai bảo tròn thì hưởng, ai bảo méo thì cũng phải chịu. Tuy nhiên, Sử vẫn nghĩ, công sức mình và anh em đã được đền đáp xứng đáng. Đó là sự hoàn lương của Dìn, sự thức tỉnh của anh em nhà Chinh và quyết tâm đoạn tuyệt với ma túy của Vần. Tuy không thật sự hiểu hết con người Chinh, nhưng Sử vẫn thầm cảm phục Páo khi Páo đã tiếp cận và làm việc với đối tượng ấy một cách khá an toàn và hiệu quả. Chinh không gian manh, láu cá như Lẩu, cũng không thủ đoạn xảo quyệt như Chớ. Nhưng ở Chinh vẫn toát lên một tính cách khó đoán, khó nắm bắt. Nếu như ai đã từng một lần thấy Chinh cầm dao chém thịt trong phiên chợ Ngải Thầu thì hẳn ám ảnh cả đời với ánh mắt ấy, bàn tay ấy và khoảnh khắc ấy…Khi biết là có khả năng Chinh sẽ ra đầu thú, Sử cũng chưa thể hình dung ra là Chinh sẽ có hành vi thế nào.
***
Thật đúng như Sử băn khoăn. Cái cách mà Chinh ra đầu thú cũng thật khác người. Hôm ấy, Sử đang trò chuyện với hai người đàn ông Sín Chải về việc cái cột điện lưới đi qua nương của dân, dân sợ không dám đi làm vì nghe nói sẽ bị điện giật. Thì Chinh đến. Chinh đặt lên bàn làm việc hai cái túi vải đen khá to. Một túi đựng vật hình tròn, một túi đựng những vật khá lỉnh kỉnh. Dù đã được Dìn báo trước về việc này nhưng Sử vẫn hết sức bất ngờ. Sử biết hai cái túi đựng gì nên rùng mình liếc qua. Hai khách kia chào về và đi ra sân. Chinh khép cửa lại, nói thẳng vào vấn đề một cách tưng hửng:
– Cán bộ cho tôi đầu thú cái!
Sử lấy giấy bút đưa cho Chinh.
– Anh viết ra đây, anh viết được chứ!
Chinh cầm cây bút, tay run run, không biết vì sợ, hay vì lâu quá Chinh không cầm bút:
– Cán bộ cho tôi hỏi một câu, bấy nhiêu tội, có phải chết không?
Sử nhìn Chinh một lúc và nói rất bình tĩnh:
– Điều đó còn tùy thuộc vào thái độ thành khẩn của anh!
Chinh thở dài, móc túi áo ngực lấy ra hai cái răng bọc vàng để lên trang giấy:
– Tất cả ở trong ấy là đầu lâu của mo Dính, súng tự chế. Cả hai cái răng này nữa. Tôi muốn nhận được sự khoan hồng của pháp luật để có ngày về sống yên ổn với vợ con!
Sử đã rất bất ngờ về hành động của Chinh. Sử nghĩ, giờ này, Páo cũng đang tiến hành vận động Lẩu. Nhưng Lẩu khác với Chinh. Lẩu vẫn nghĩ đơn giản rằng, cái tội buôn bán người, cũng chỉ giống như cái tội mua bán những thứ hàng cấm ba ba rắn rết hoặc như tội Lẩu lừa đảo người ta lúc gặp cảnh ốm đau, hoạn nạn để cúng bái thôi. Mà Lẩu không biết rằng mình đã gián tiếp lấy đi bao nhiêu mạng sống mà lẽ ra họ được sống như vợ của Đái và cướp đi bao nhiêu cuộc sống hạnh phúc. Vừa rồi, một nạn nhân nữa của Lẩu đã trở về và đi kiện. Kiện cả Lẩu và chồng chị ta. Vì khi về thì chồng đã đi lấy vợ mới, người đàn bà tủi quá còn ăn lá ngón để chết, may mà được cứu sống. Vụ việc đó, chính quyền còn chưa biết giải quyết thế nào vì chị này đã có hai con, và cái người vợ mới kia cũng đang mang thai sắp đến kì sinh. Cả hai cuộc hôn nhân đều không có đăng kí kết hôn, biết lấy gì làm cơ sở để giải quyết và bảo vệ quyền lợi cho người đàn bà bất hạnh? Tuy nhiên, bắt Lẩu là không khó và có thừa bằng chứng để Lẩu phải nhận tội và đền tội. Thành lũy cuối cùng, sào huyệt cuối cùng là Thào Chớ. Với đối tượng này, việc truy tìm bằng chứng và bắt quả tang hành vi phạm pháp mới là vấn đề. Cấp trên có chỉ thị là cơ sở không được phép có biểu hiện gì khiến đối tượng nghi ngờ cả. Giờ là lúc Sử có thể thảnh thơi nghỉ một chút được rồi. Vợ Sử vẫn nhấp nhửng từ mấy năm trước là được chồng đưa ra thành phố chơi một lần nhưng chưa có dịp nào cả. Việc nọ cứ gối vào việc kia. Và Sử cũng đã nói rõ là chỉ đi chơi thôi chứ không bọc răng đâu nhé. Vợ Sử chỉ cười, phô hai hàm răng đều đặn trắng bóng.
* * *
Rạng sáng, Đái chợt thức giấc vì một tiếng hú mơ hồ nào đó dưới nhà Lẩu vọng lên. Giống như tiếng gọi âm binh của Lẩu mỗi lúc đăng đàn ngoài trời cúng bái. Rồi lại giống như tiếng hú của vợ Đái hồi còn sống. Đái đi xuống nhà Lẩu. Nhà cửa yên ắng. Bếp chưa thấy ánh lửa. Đứng ngoài cửa, nghe tiếng xích leng keng trong gian nhà tối um khiến Đái chột dạ. Đái đạp cửa bước vào. Ánh sáng rạng ngày lọt vào theo. Đái thấy May đang vùng vẫy trong sợi dây xích, dưới đất là vũng máu đã bầm đen. Hì hục mãi Đái mới gỡ được sợi dây xích sắt. Rồi đến cái mảnh vải giẻ rách Lẩu vốn lót cho con chó mẹ nằm, giờ nhét vào mồm May, mà Đái phải thật nhẹ nhàng mới lôi ra được. May nhổ xuống đất thêm một bãi máu rồi bảo Lẩu bỏ trốn rồi. Đái đưa tay, làm dấu cho May yên lặng rồi nhẹ nhàng đi ra phía chuồng ngựa. Con tía vẫn trong chuồng. Vậy là Lẩu đi bộ. Phải báo cho cán bộ Páo biết thôi. Nhưng Đái chưa kịp xuống nhà Páo thì đã thấy Páo ăn mặc chỉnh tề đi lên sân nhà Lẩu. Nhìn bộ mặt sưng bầm của Páo, Đái lấy làm lạ nhưng không dám hỏi. Đặc biệt là cái điệu đi khập khiễng đầy vẻ đau đớn của Páo nữa. Đái rùng mình. Páo đang vội nên Đái không hỏi gì cả.
* * *
Vợ Sử ăn mặc rất đẹp. Chiếc khăn đội đầu đỏ rực, những chiếc vòng bạc sáng lóa trên cổ và đôi giày vải màu xanh da trời. Chiếc váy này, vợ Sử thêu cả năm ngoái mới xong, chỉ diện tết có một lần. Được đi thành phố chơi không phải là ước mơ của riêng cô mà là của bao nhiêu người phụ nữ Mùa Sán, nơi ở xa nhất trong xứ Mường Thàng này. Gần bốn chục tuổi đầu, sắp có con dâu rồi, đây là lần đầu được ra thành phố. Từ chiều hôm trước, Sử đã lau chùi chiếc xe máy cho thật sạch sẽ. Nhưng sáng nay, không hiểu sao Sử cứ chần chừ, nấn ná và nói rằng đợi mặt trời lên, sương tan hãy đi cho bớt lạnh. Vợ Sử dù sốt ruột đến mấy cũng không dám giục chồng. Trước giờ xuất phát, bất ngờ Páo xuất hiện, vẻ mặt căng thẳng, có chút hoảng hốt. Nhìn những vết thương trên mặt Páo, Sử hiểu chuyện. Sử quay vào nhà, gỡ cái mũ bảo hiểm ra, đưa cho vợ. Páo nói gì đó rất nhỏ vào tai Sử. Mắt Sử chợt sầm lại. Sử bảo Páo cứ ra ủy ban trước, rồi anh sẽ đến ngay. Vợ Sử không dám cằn nhằn gì cả, lặng lẽ vào nhà thay váy áo, giầy dép và vác cái cào nương đi ra phía cổng. Sử nhìn theo vợ bằng vẻ mặt ái ngại nhưng không nói gì cả. Rồi cô ấy sẽ hiểu.
Sáng hôm ấy, theo như đã hẹn, Páo đến gặp Lẩu để cùng Lẩu ra ủy ban xã thì không gặp Lẩu đâu cả. Lẩu đã bỏ trốn. Dẫu biết ngày nghỉ Sử đưa vợ ra thành phố chơi nhưng Páo vẫn đành phải tìm đến. Việc này thì Sử không tự quyết định được, phải xin ý kiến cấp ủy.
Cuộc họp diễn ra được chừng nửa giờ thì chủ tịch xã chốt lại:
– Đây là bài học lớn cho chúng ta, đừng có dồn dân vào đường cùng nữa. Nó mà tự ăn lá ngón hay nhảy xuống vực chết là các đồng chí có tội đấy!
Páo cắn răng vào môi suýt bật máu. Anh tập tễnh ra khỏi hội trường. Sử định chạy theo nhưng bắt gặp cái nhìn ngang của chủ tịch xã thì dừng lại.
Giờ giải lao, Sử đến bên Páo. Khuôn mặt Páo xây xước, nhiều vết bầm tím.
– Chúng nó là những đứa nào?
– Tay chân của Thào Chớ thì phải. Tôi nhận ra mấy đứa dưới Lùng Vài, Láo Tả hôm trong cuộc rượu nhà Chinh!
– Chúng định lấy mạng cậu?
– Không, nó chỉ định đánh cho tôi nằm què một chỗ. Đêm ấy, tôi vừa ở nhà Lẩu về thì chúng ào ra chặn đường, có cả dao, cả gậy. Tôi nghĩ là mình sẽ rơi xuống vực chết. Chúng còn muốn tôi sống, có nghĩa là chúng chỉ dằn mặt thôi. Vì nếu có án mạng thì sẽ hỏng chuyện lớn của chúng!
– Thôi, cậu về nghỉ ngơi đi!
Nhận lệnh trực tiếp từ cấp trên, Sử cùng bốn công an viên lên Mùa Sán ngay trong đêm. Đi được một đoạn đường. Bỗng Sử hỏi một công an viên người Lùng Vài:
– Theo cậu, hang Đùng Đeng còn cửa nào khác ngoài ba cái cửa chúng ta đã biết?
Người kia hít hà cái lạnh của buổi đêm và nói xa xôi:
– Thực ra thì tôi cũng không thuộc hang Đùng Đeng lắm. Tôi biết có một người thuộc hang như bàn tay!
Một người sốt sắng hỏi.
– Ai vậy?
– Lý Chinh!
Sử lắc đầu. Lý Chinh giờ không còn ở Ngải Thầu nữa. Anh im lặng. Chợt như nhớ ra điều gì. Anh bảo một người quay lại Sín Chải:
– Cậu hãy quay lại gặp Vần, nói là tôi cần cậu ấy giúp đỡ!
Người kia vội vàng quay trở lại. Còn tất cả tiến về phía con đường đi Mùa Sán. Đến một tảng đá to nằm ngửa như chiếc giường ngay bên đường, cả nhóm dừng lại đợi. Chừng hai chục phút sau thì hai bóng đen đi tới. Từ xa Sử đã nhận ra Vần. Vần cầm trong tay một bó đóm lớn, giọng hổn hển vì phải đi quá nhanh trong khi thể trạng của Vần chưa được khỏe mấy. Trông thấy Sử, Vần nói ngay:
– Không đời nào Lẩu trốn trong hang Đùng Đeng cả, vì việc tiếp tế rất khó khăn và dễ bị phát hiện!
Sử kéo Vần ra một chỗ và nói nhỏ gì đó vào tai Vần. Vần lấy làm kinh ngạc. Cả đoàn người vẫn tiếp tục lên đường, tiến về phía miệng hang Đùng Đeng.
Thào Chớ ngồi rung đùi trên ghế, cái mắt híp vào vì cười. Một thằng đồ đệ nói nhỏ:
– Chúng nó đang sục sạo nát cả hang Đùng Đeng rồi. Đúng là đại ca đã lường hết mọi việc!
Thào Chớ bỗng ngưng cười, hỏi lại:
– Có đúng là thằng Chinh đi đầu thú không?
Thằng kia gật lia lịa:
– Sai thế nào được. Đi tù là cái chắc, ngu thì chết!
Thào Chớ cười phì phì bằng mũi:
– Mày ngu thì có. Mày không biết tự hỏi là tại sao nó muốn gấp gáp đi tù không? Đó là cách nó phản đối kế hoạch vĩ đại của chúng ta. Giờ thì chúng ta không thể gây áp lực lên nó nữa. Nhưng đâu có dễ thế. Bề trên hẳn có cách, và cùng lắm là tìm người thay thế!
Thằng kia đổi giọng nịnh nọt:
– Việc gì phải tìm đâu xa, tôi nghĩ trưởng bản thừa sức gánh vác trọng trách ấy!
Thào Chớ nhổm người trên ghế:
– Mày nghĩ thế thật à?
Thằng kia gật gật. Thào Chớ tỏ ra nguy hiểm khi đánh lạc hướng câu chuyện.
– Sớm muộn thì chúng nó cũng tóm được thằng Lẩu thôi. Bỏ trốn đâu có dễ với cái tội danh buôn người. Nhất là với thằng ghen vợ như nó. Đi vài hôm, sợ vợ ở nhà ôm ấp thằng khác là lại mò về ngay thôi mà. Còn vì sao mà bọn chúng lục lọi hang Đùng Đeng thì tao biết rồi. Chúng tìm thứ khác chứ không phải tìm người!
Thằng kia đang cười khoái chí, thấy vợ Thào Chớ đi vào thì nín tịt. Hai thằng đàn ông cứ lấm lét nhìn nhau. May quá, vợ
Thào Chớ lục lọi thứ gì đó trong buồng rồi lại đi ra ngay. Cái mũi nó cứ chun chun lại. Nó hỏi Thào Chớ:
– Tôi thấy mùi gì rất lạ trong nhà ấy!
Thào Chớ co chân lên ghế:
– Vớ vẩn, mùi gì?
Máy nói toẹt:
– Mùi người. Dạo này ông toàn đem người lạ về nhà thôi. Ông đưa đi đâu thì đưa, chứ để trong hầm rượu rồi bắt tôi cơm nước phục vụ là không được đâu!
Thào Chớ đứng bật dậy, chạy đến cạnh vợ, vung tay giáng một cái tát nảy lửa vào cái mặt con đàn bà đang cong cớn:
– Mày có câm mồm không? Muốn chết à? Sướng quá hóa rồ. Toàn anh em chiến hữu của tao mà mày bảo là người lạ à?
Đám bộ sậu tái hết cả mặt. Máy ôm mặt khóc hứ hứ trong họng và đi xuống bếp. Chừng như rát tay, Thào Chớ lấy hai tay xoa xoa vào nhau rồi trở về chỗ ngồi, quát nhỏ:
– Mẹ cái lũ phản tặc. Không chừng thằng Lẩu khai hết ra thì chết cả lũ. Mày có cách gì không?
Thằng kia, gõ tay vào đầu một cái rồi tỉnh bơ:
– Xẻo lưỡi nó đi!
Thào Chớ trợn mắt:
– Mày định học phim Tầu hả? Ra ngoài xem tình hình thế nào rồi về ngay. Nhớ là đi đường tắt mà về!
Thằng kia gập người nhận lệnh rồi đi ra. Thào Chớ hất hàm xuống bếp:
– Trói nó lại, tống vào hang. Nó mà đi ra ngoài là lôi thôi!
Mấy thằng còn lại, mắt xếch ngược lên. Bà vợ trưởng bản cao quý từng ấy, đứa nào dám trói? Thào Chớ đập tay xuống bàn:
– Thế nào hả? Có làm không thì bảo tao?
Hai thằng vâng dạ liến thoắng rồi lôi sợ dây thừng trong gùi ra, tiến xuống bếp như một con mèo. Thào Chớ dặn với:
– Bịt miệng nó lại!
Dưới bếp vọng lên tiếng đổ vỡ, tiếng la hét, tiếng huỳnh huỳnh, giãy đạp, ú ớ, rồi bỗng im phăng phắc. Thào Chớ khẽ nhoẻn miệng cười:
– Mẹ mày, ông sắp có trong tay cả bầy gái trẻ đẹp. Lúc ấy ông sẽ cho mày thành con ma canh hầm rượu, để mày biết thân biết phận. Lẽ ra, tao đâu có đối xử với mày thế. Năm mặt con kia mà. Nhưng trong đầu mày luôn nuôi ý định chống đối tao. Mày sợ chết. Mày bảo tao lầm đường lạc lối. Mày là cái thá gì mà dám nói tao thế nhỉ? Ngay như thằng Chinh kia, còn không dám cản tao, huống hồ một con đàn bà. May mà tao kìm lại được. Nếu không tao xẻo lưỡi mày ném cho chó nó tha!
Mấy thằng tay chân mò về, vẻ mặt ngơ ngác. Chúng nói không có ai trong hang Đùng Đeng cả, và cũng không thấy thằng Lẩu đâu. Hay là thằng Lẩu bị công an tóm giải đi rồi? Không thể thế, dân Mùa Sán này, tất cả đều là tai mắt của Thào Chớ. Làm sao có chuyện một thằng người tự nhiên biến mất không chút tăm váng nào cả. Cứ cho là nó chốn đi đang đêm. Nhưng mà đi đâu được chứ. Nó đi đâu Thào Chớ không quan tâm. Chỉ sợ nó rơi vào tay công an là hỏng hết mọi việc. Thào Chớ thấy bực bội trong người, sinh ra gắt gỏng mấy thằng đệ tử. Đúng lúc ấy thì vợ chồng đứa con trai cả đi làm nương về. Chúng có vẻ như vừa mới cãi nhau gì đó. Thằng con trai đã ngoài ba chục nhưng tính như trẻ con.
Vừa vào nhà là hỏi Thào Chớ về mẹ nó. Thào Chớ tỉnh bơ.
– Thấy bảo ra Sín Chải có việc mà!
Thằng con trai Thào Chớ đi xuống bếp, thấy mọi thứ vỡ tung tóe thì nó hỏi Thào Chớ:
– Ông lại đánh mẹ đấy à?
Thào Chớ lộn ngược lòng trắng trong mắt ra:
– Mày đừng có vớ vẩn. Mẹ mày chứ mẹ tao à?
Thằng con trai cười nhăn nhở, ngồi xuống ghế:
– Thế bọn trẻ con nhà tôi đâu?
Thào Chớ hất hàm, chỉ sang phía nhà Lẩu. Thằng này vội vàng đi sang đó. Thào Chớ nhìn bọn lâu la, khoát tay:
– Chúng mày giải tán đi. Nhớ loanh quanh đâu đó trên nương nhà thằng Sùng là được rồi!
Chợt Thào Chớ vời thằng cuối cùng lại, bảo:
– Mày ở lại xem cháo lão cho hai thằng trong hầm chứ. Mẹ chúng mày, năm thằng mà đánh không lại thằng Páo, đáng đâm đầu vào đống cứt mà chết đi rồi!
Thằng kia cúi đầu không nói gì. Thào Chớ lại hỏi:
– Thế có thật là nó gẫy chân không?
Thằng này hùng hồn:
– Không gẫy thì nó cũng không thể đi được. Gậy đó là do chính tay em phang mà lại!
Thào Chớ nghi ngờ:
– Sao con quán rượu bảo sáng nay thấy thằng Páo ra ủy ban sớm lắm? Hay nó đi gặp Sử?
Thằng này chống chế:
– Con mụ đó suốt ngày đú rượu với bọn ủy ban, lâng tâng khâng rồi thì trông gà hóa cuốc. Thằng Lẩu hẹn thằng Páo đưa đi đầu thú. Mà thẳng Lẩu trốn rồi, thằng Páo ra ủy ban làm gì? Có mà mặt mo. Với lại, em cá là giờ này cái thằng bất tài đang nằm ôm chân, ôm đầu rên rỉ đau đớn!
Thào Chớ gật gù, vẻ yên tâm.
Con trai Thào Chớ sang nhà Lẩu, thấy May mặt tím như màu tím quả cà dái dê, mắt mũi sưng húp đang ôm hai đứa trẻ con vào lòng mà sịt soạt. Thằng này xộc lên nhà, xuống bếp, không thấy mấy đứa con mình đâu thì không tiện hỏi. Nó vốn giống tính Thào Chớ, chúa ghét cái giống đàn bà khóc. Không khóc thì đánh một, khóc thì đánh năm đánh bảy, cho câm họng vào mấy thôi. Lẩu trốn từ đêm qua nhưng nó không biết, cũng không hỏi, chỉ lấy chân đá vào quả bầu khô dưới đất một cái rồi huýt sáo vang khi ra khỏi cổng. Rồi đột nhiên nó quay lại hỏi May:
– Có thấy mẹ cháu sang không?
May lắc đầu. Thằng này buông thõng một câu hết sức vô duyên, láo hỗn:
– Chắc vừa bị ông Chớ nện cho chạy đâu đó. Con vợ cháu vừa rồi, lúc trên nương, cháu cũng tát cho mấy phát!
May không nói gì, gục xuống hai đầu gối nấc lên. Kể từ khi Lẩu chốn đi, cô vô cùng sợ hãi. Sợ nửa đêm Lẩu sẽ lại mò về và giết chết mấy mẹ con. Rồi cô sợ Lẩu bị công an bắt, trói vào cột, bắn chết như cái cách người dân ở đây vẫn nói về những kẻ phạm tội giết người bị tử hình. Bao nhiêu nỗi sợ hãi trói chặt lấy May. Rồi May lại sợ chị Máy bị Thào Chớ đánh đập. Máy ra đường mặt mũi tươi tắn vui vẻ thế thôi. Ở nhà, Máy chả khác nào cái giẻ bắc nồi. Vừa nhọ nhẽm, vừa rẻ rúng, bẩn thỉu và người ta sẵn sàng giẵm lên, hoặc ném đi mà không tiếc.
Rồi trong cái mớ suy nghĩ rối như bòng bong ấy, cô nghĩ đến Đái. Người đâu mà vô tâm. Thằng Sáng giống Đái từ cái khuôn miệng rộng và đôi mắt nhỏ dài, giống đến cái điệu đi khuỳnh khuỳnh. Hồi thằng Sáng còn nhỏ. Mỗi lần nó khóc đêm, Lẩu toàn dọa đập nó vào gốc lê già cho nó chết. Đẻ đứa khác nuôi. Máy cắn răng không thú nhận gì hết. Mà nó vẫn biết. Nó tàn nhẫn khi muốn thằng Sáng với con Su thành vợ chồng, sinh con đẻ cái. Nửa muốn nó trốn thoát, nửa lại muốn nó bị công an bắt ngay. Máy đã nói với cán bộ rồi, không biết cán bộ có cách nào tháo gỡ việc này không? Hôm ấy, lúc Máy ngồi ở quán rượu nói chuyện với hai cán bộ, Máy không ngờ là con bé chủ quán lại đi nói với Thào Chớ. Thì ra, ở đây, chỗ nào cũng là tai mắt của Thào Chớ. Thào Chớ gọi Lẩu đến, nói một câu độc địa. “Con vợ mày đang nhảy múa với thằng Sử và thằng Páo ngoài ủy ban kia kìa. Cứ ngồi đấy mà đếm bạc”. Lẩu về, việc đầu tiên là đạp một cái vào lưng, cho Máy ngã sấp mặt xuống cái máng lợn. Sau là đấm đá. Rồi sau nữa là lấy sợi xích chó, xích Máy vào chân cột rồi lên nhà ngồi, khoanh chân uống rượu, gặm nhấm nỗi sung sướng âm ỉ khi được hành hạ vợ thỏa sức. Lúc Páo lên và cả lúc Páo về qua, Máy muốn kêu cứu nhưng cục giẻ nhét trong mồm chưa lôi ra được. Và Lẩu thì theo sát chân Páo.
Từ lâu rồi May biết Lẩu đã tham gia vào cái nhóm người chuyên rủ rê, lừa phỉnh bọn đàn bà con gái qua biên giới để bán kiếm lời. Nhưng không đời nào May lại nghĩ đến cảnh Lẩu định bán cả vợ cho bõ hận. Giờ thì May hận nó lắm rồi. May đã bao che cho nó bao nhiêu năm. Vậy mà nó lấy oán để trả ơn như thế đấy. Thằng Sáng nữa, dù sao cũng đã mang họ Hạng, chứ không phải họ Lý. Mà nó nỡ lòng nào làm thế với đứa con vẫn gọi nó bằng bố. Nếu biết có ngày nó bội bạc thế này, thì hôm ấy, May đã báo cán bộ cho bắt nó luôn. Rồi Máy lại rùng mình ớn lạnh trong cái suy nghĩ rất đàn bà vừa nhói lên trong đầu. Bố nó, nó còn giết được, huống hồ là vợ, là con. Nhưng cứ ngồi đây mà chờ chết ư? May vội vàng ôm con nhỏ và dắt theo đứa lớn, nhằm hướng đường cái to mà đi ra phía ủy ban xã. Thôi thì, cứ gửi con về nhà mẹ đẻ đã rồi sẽ tính sau. Kiếp này, sống hay chết thì cũng là con ma nhà nó rồi. Làm sao có thể thay đổi nữa chứ. May gửi con ở nhà mẹ ở Sín Chải, dặn dò các con ở đó để mẹ đi tìm bố. Rồi May quay về Mùa Sán. Trước hết là phải gặp chị gái của May đã.
CHƯƠNG 20
Páo nằm im cho vợ dùng rượu thuốc xoa bóp vào những vết thương trên cơ thể. Gọi là rượu thuốc là vì ở vùng Mường Thàng này, cây “rã đòn” mọc đầy rừng nhưng rất ít người biết đến công dụng của nó. Bố Páo là người biết sơ sơ về thuốc nên trong nhà Páo lúc nào cũng có bình rượu ngâm cây thuốc này. Cây này có họ nhà cây mật gấu nhưng không đắng và rễ cây không có mầu vàng như thế. Cây “rã đòn” thân gỗ, thẳng tưng như cây gậy, phải từ hai năm tuổi trở lên nó mới đẻ cành, sinh nhánh. Lá nhỏ, thưa và không rụng vào mùa thu. Rễ cọc cắm sâu xuống đất để tìm nước và thức ăn. Người ta thường dùng một đoạn thân, cành của cây rã đòn chẻ nhỏ, sao khô, ngâm với rượu nặng khoảng ba tháng thì đem dùng. Rượu này dùng cho người già đau xương đau cốt do một quãng thời gian dài lam lũ vất vả. Dùng cho người ngã, hoặc va đập mạnh, bầm tím. Nó có công dụng đặc biệt cho người bị đánh đòn cho nên mới có cái tên dân dã là như vậy.
Thấy chồng suýt xoa đau đớn, vợ Páo xót ruột lắm nhưng vẫn phải cắn răng vào mà xoa bóp. Cái cẳng chân của Páo tím bầm một lằn dài, dấu vết của cây gậy. Ngang lưng Páo là hai vết bầm vừa rộng và đang có dấu hiệu nhiễm trùng là do một những viên đá to choảng vào. Mặt mũi, đầu vai, tay…Chỗ nào cũng có thương tích. Năm đánh một cơ mà.
Tối hôm ấy, Páo vừa ở nhà Lẩu về. Tâm trạng khá lo lắng vì vở kịch mà Lẩu diễn có vẻ còn vụng về lắm. Với lại, lệnh trên là chưa cần bắt Lẩu ngay sợ ảnh hưởng đến những con mồi lớn hơn. Vì thế Páo cứ để yên cho Lẩu hí hửng. Việc vận động Chinh ra đầu thú thành công, có lẽ là một thành quả mà Sử và Páo chưa bao giờ nghĩ đến. Vì thế, Páo biết Lẩu đã được đồng bọn chuẩn bị cho những kế sách tiếp theo để đối phó với cơ quan chức năng. Nhà Lẩu và nhà Páo cách nhau đúng một con dốc dài với ba khúc cua hẹp. Trên là nương dứa của đồng bào. Dưới là vực sâu hun hút. Trời cuối tháng lại rất tối. Đến khúc cua thứ hai thì Páo linh cảm có điều gì đó đang đợi mình ở phía trước. Páo đi chậm lại và tay nắm chặt chiếc đèn ba pin. Páo dùng đèn lia một vòng xung quanh, thấy một tán cây bên đường khẽ rung rung, dù trời không có gió. Páo quát lớn:
– Ai đó?
Không có tiếng trả lời, ngay lập tức Páo ngã dúi người xuống phía trước vì một hòn đá to hơn cái bát con bay từ phía sau đập vào lưng Páo. Páo chưa kịp hoàn hồn thì lại thêm một hòn đá nữa bay vào bả vai khiến cái tay cầm đèn bị tê liệt. Kinh nghiệm từ những lần bị kẻ xấu tấn công trong bóng tối khiến Páo dạt vào vách núi thế thủ. Cái thế đứng là quan trọng nhất. Dù anh giỏi võ hay vũ khí đầy trong tay mà anh đứng chênh vênh nơi miệng vực thì sớm hay muộn anh cũng bị hạ gục nếu không thì cũng rơi xuống vực mà mất xác. Páo chuyển cây đèn pin sang tay trái, dựa lưng vào núi đá mát lạnh. Tiếng một thằng đàn ông khàn khàn nghe lạ tai.
– Tráng A Páo, hôm nay tao phải rửa nhục cho anh em, cái nhục ở chợ phiên, mày cấm đoán anh em tao.
Hắn vừa dứt lời thì từ bốn phía bọn chúng ào ào lao vào Páo. Thằng gậy, thằng dao, thằng đá. Páo dùng cây đèn pin như một vũ khí lợi hại và quét vào mặt chúng. Páo nhận ra ít nhất hai trong số năm đứa là người quen. Páo gọi tên chúng. Mấy thằng này bủn rủn chân tay, lảng ra. Những thằng còn lại ngoan cố lăn xả vào, nhắm mắt nhắm mũi mà phang nên đánh cả vào nhau kêu ôi ối. Biết Páo bị thương, một thằng liều chết lao vào ôm chặt lấy Páo cho hai thằng khác tấn công. Páo bị một cây gậy vụt ngang mặt khiến anh loạng choạng, máu mũi tứa ra, chảy xuống mồm mằn mặn. Ngay sau đó Páo bị một đòn rất mạnh vào ống chân khiến anh quỵ xuống. Páo nói:
– Tôi với các anh không có hận thù gì mà các anh lại hại tôi. Các anh sẽ phải trả cái giá rất đắt. Rồi ai sẽ nuôi vợ con các anh, chăm sóc bố mẹ già của các anh?
Câu nói ấy ngay lập tức có hiệu lực đối với những kẻ đánh thuê vì đồng tiền, hớp rượu. Chứ trong đầu chúng, tịnh chẳng có cái suy nghĩ gì về thứ mà Thào Chớ cho là lí tưởng ấy cả. Những bóng đen tản ra rồi biến mất. Con đường lại vắng lặng như thường.
Páo lết về đến nhà trong đau đớn. Bố anh đã định ngay đang đêm đi Sín Chải để gặp Sử nhưng anh không cho đi. Anh sợ ông sẽ gặp nguy hiểm. Đến sáng, dù mọi người ngăn cản nhưng anh vẫn đến nhà Lẩu như đã hẹn và lòng vẫn nuôi hi vọng mong manh là biết đâu đấy, Lẩu có thể nghĩ lại và ra đầu thú. Nhưng Lẩu đã trốn. Páo trở về nhà, mặc cái áo của bố, mang cây gậy của bố, đội cái mũ của bố. Giả làm một ông già, đi ra nhà Sử để thông báo việc Lẩu đã bỏ trốn. Sử bảo Páo sang trạm xá khám lấy thuốc rồi nhưng Páo nén đau về nhà đã. Nếu Páo nằm trạm xá, mọi tin tức sẽ lộ ra hết, mà Páo chưa muốn dân Mùa Sán biết việc này. Đến phó trưởng công an xã mà còn bị tấn công thì dân sẽ hoang mang đến thế nào.
Vậy là Páo về nhà. Giờ thì đòn đau mới ngấm, mới nhức nhối.
Mẹ Páo đặt cái sọt củ mài xuống hè nhà, nói là sáng mai ngày chợ sẽ đem bán, thêm tiền mua thuốc cho Páo. Bố Páo bảo:
– Nấu chè mà ăn thôi, bán không được đâu. Mai là ngày đầu tháng vớ!
Páo không biết vì sao mà không được. Bố Páo lại bảo:
– Ngày đầu tháng âm lịch, ai ăn củ mài chứ. Củ mài đâm xuống. Đầu tháng, người ta chỉ ăn ngọn măng thôi. Ngọn măng mọc lên. Mới khấm khá được!
Mẹ Páo thở dài, vần cái sọt củ mài vào góc bếp, ca cẩm:
– Người Mùa Sán cả đời ăn măng, tươi có, khô có, héo hết cả ruột, chả kể đầu tháng, đầu năm gì cả, mà có khá hơn đâu. Vẫn cứ nghèo mãi thế này!
Tuy phàn nàn thế. Nhưng mà cũng phải nghe theo thôi. Mang được từng ấy ra chợ, mà ngồi đến trưa cũng không bán được thì lại phải tha về à? Chẳng đau gẫy hết cả lưng ra ấy chứ. Đào được củ mài ở cái vùng núi đá này đã khốn khổ rồi. Cái hố sâu một tầm một với. Muỗi vàng từng đàn vo ve lượn quanh định xâu xé da thịt người ta. Càng xuống sâu, nó càng trắng, càng nạc. Cái câu chuyện sự tích củ mài người Mông vẫn truyền kể cho nhau ấy. Nghe mà đau lòng lắm.
Ngày xưa, nhà kia mẹ mất sớm, bố lấy dì ghẻ về, dì ghẻ vừa tham ăn vừa ác, không cho các con chồng bữa cơm nào no. Hôm ấy, nhân dì có việc đi thăm bà con vắng nhà, ba đứa trẻ con mồ côi mẹ bèn nghĩ cách lấy trộm gạo đem vào rừng thổi cơm ăn cho bõ thèm. Thế là chúng bèn xúc lấy một túi gạo trắng mang đi. Vào đến rừng rồi, đứa lớn nhất mới nhớ ra là không đem theo nồi để nấu, bèn sai đứa út về lấy. Đứa út về, dì bắt được đánh cho một trận rồi trói vào cột nhà. Trong rừng, hai thằng anh thấy em lâu vào thì bỏ gạo sống ra ăn và tìm cách dấu gạo đi, thỉnh thoảng lại vào để lấy ăn. Đề phòng chim chóc nhìn thấy ăn hết, chúng bèn nghĩ cách để đào hố mà trôn gạo xuống. Nhưng cuốc không có, thuổng thì không, đào bằng cách nào? Thằng anh bèn nghĩ cách dùng cây nhọn chọc xuống đất, sau đó bảo em lấy đá đóng lên. Khi rút cây nhọn lên thì được một cái hố tuy hẹp nhưng lại rất sâu. Thế thì quá là an toàn rồi. Nên hè nhau đổ gạo xuống rồi lấp đất lại. Dùng que đánh dấu. Hai anh em phải đào được chục hố như thế để giấu gạo rồi ra về.
Mấy năm sau, trong một lần nhà đói quá, chẳng có gì ăn, nhớ đến những hố chôn gạo trong rừng, mấy anh em bèn vác thuổng vào rừng. Lần theo những dấu vết cũ, họ thấy lạ vì ở đó mọc lên những loài dây rất lạ. Anh em bèn lấy thuổng đào xuống gốc dây đó và phát hiện ra những cái củ trắng muốt nhỏ bằng cây gậy và rất thẳng. Bẻ cái củ ra thấy hình những hạt gạo trắng trong đó, cho vào lưỡi nhai thì có vị ngọt. Người em reo ầm lên. Gạo của chúng ta đây rồi. Họ đào được nhiều củ đó mang về ăn và còn mời bà con hàng xóm. Củ đó chính là củ mài. Nguồn lương thực dự trữ để ở trong rừng phòng khi mất mùa, thiếu đói. Đào củ mài nhọc lắm.
Giờ thì người ta vẽ ra đủ thứ kiêng kị thôi.
Nhưng không bán thì lấy gì mua thuốc, mua thức ăn cho con. Nó đau thế phải có cái gì ăn ngon hơn một tí mới mau khỏe lại chứ. Nhà thì không còn gì ngoài mấy củ lạc khô để dành từ trong năm cả. Măng chua thì hàng hũ kia. Ai lại cho con ăn măng không? Nó khỏe ăn gì cũng thấy ngon miệng. Giờ thì nằm bệt ra kia cho vợ bóp thuốc. Ruột bà như có ai cắt, ai xát muối vào. Đã bảo rồi, chợ là để mua để bán, đừng có cấm đoán người ta bán thứ này thứ nọ. Để rồi tai họa thế này. Mà bọn chúng cũng ác thế không biết. Con người với nhau cả. Đã bị đánh đau thế mà nó còn dặn hết người lớn người bé trong nhà là không được kể với ai cả. Khổ thân chưa. Đến đau còn phải giấu cái đau đi, không được để thiên hạ biết. Đã nói nhiều lần rồi, đêm hôm thì ít ra khỏi nhà thôi. Cái vùng núi này nguy hiểm lắm. Nói vụng, chứ con rắn độc trong bụi lao ra cắn cho một cái cũng chết chứ chẳng cần phải ai đánh cả. Nhưng mà việc của nó phải đi đêm thế. Nó có đi chơi đâu?
Bà mẹ Páo chọn những củ mài nạc nhất, trắng nhất, gọt vỏ, rửa sạch nhớt, cho lên chõ đồ chín. Chỉ cần kiếm tí đường đỏ nữa cho vào nấu lên là thành chè thôi. Không bán thì ăn. Cũng còn tốt chán. Nhiều nhà thèm củ mài còn không đào được mà ăn đấy. Đào củ mài còn phải có duyên mới được. Có người đào năm hố, trúng đá cả năm. Nhà giầu đào củ mài lại càng khó gặp. Vì sao thì cũng chả biết. Người nóng nảy, thiếu kiên trì đào được cũng vỡ, nát và gẫy hết cái túi gạo. Nhìn sọt củ mài đem bán là biết người có khéo léo, tỉ mẩn và bền trí hay không rồi. Chính vì thế, dù con dâu bà nhiều lần vận động con trai bà nghỉ việc nhưng bà vẫn ngấm ngầm ủng hộ con.
Đừng sợ cái ác con ạ. Mình cây ngay không sợ dây cuốn chết. Người tốt mà phải sợ kẻ xấu, người thiện mà phải sợ kẻ ác thì cái xã hội này loạn hết hay sao?
Đừng nản con ạ. Khó bằng đào củ mài nả còn đào được cơ mà. Khó bằng cái chữ mà con gái mày nó cũng học đến lớp tám rồi cơ mà. Nó còn bảo học nhiều hơn nữa, cao hơn nữa, học cả đời. Khó bằng kè núi, bắc cầu mà người ta còn làm được đường lên Ngải Thầu kia mà. Ngăn thác, ngăn sông, ngăn suối làm ra ánh sáng còn làm được cơ mà.
Đừng buồn con ạ. Theo như cán bộ Sử nói thì cả nước có đến hàng vạn người làm công tác an ninh thôn bản như Páo cơ mà. Họ đều có cái lý để làm và theo đuổi công việc này chứ. Bà không biết vạn là bao nhiêu nhưng hẳn là nhiều lắm. Vì người ta cứ nhắc tiền trăm bạc triệu, nói có ông mặt trời vẫn ở trên đầu kia, bà chưa từng cầm trong tay triệu bạc bao giờ. Thóc lúa chỉ đủ ăn, không có bán. Mà khi có con lợn, con dê đem bán thì phải cái đứa biết chữ mới tính ra tiền và cầm tiền. Được tiền rồi thì tiêu hết ngay thôi mà, có gì đâu. Bà khuyên Páo nhiều lần rồi đấy. Mặc dù như thế là con dâu không vừa bụng. Vì Páo là con trai bà nhưng lại là chồng nó. Páo đau đớn thế kia hẳn nó cũng xót ruột lắm. Vậy thôi, tùy ở con. Sau việc này nữa, con có làm tiếp hay nghỉ việc là quyền của con, nả không khuyên can con nữa.
Páo nhai cơm cũng thấy đau. Dù vợ Páo đã nấu cơm thật dẻo, đã luộc rau thật dừ, đã giã lạc thật nhỏ. Lúc nào vợ Páo cũng chỉ vào cái đầu Páo mà hỏi xem còn đau nhiều hay đau ít. Páo cố làm ra vẻ không đau, vì sợ vợ con lại lo lắng. Bố Páo bỏ đi đâu đó ngay sau bữa ăn. Đến chiều tối ông mới về. Bố Páo ngoài sáu mươi nhưng còn dẻo dai, khỏe mạnh lắm. Ông khẽ nói với Páo.
– Anh cứ nghỉ ngơi cho khỏe đi. Bố sẽ làm phần việc của anh đến khi nào anh khỏe.
Páo cảm động muốn ứa nước mắt, nhưng lại tỏ ra cứng rắn. Anh lấy cuốn sổ nhỏ ra, ghi chép gì đó vào một mặt giấy rồi lột ra, gấp tư, đưa cho bố và bảo.
Bố đưa tận tay anh Sử nhé. Bố đi cẩn thận.
Ông già nhét mẩu giấy vào túi áo ngực và đi ra sân. Mẹ Páo thấy thế hỏi theo:
– Ông đi đâu thế hả? Nhà đợi cơm đấy!
– Ừ, tôi đi mua đôi pin đèn thôi mà. Chả tối đến, cứ như bị giời bịt mắt.
Ông đi rồi, Páo mới thở một cái, nhẹ cả người.
* * *
Sử đọc xong tờ giấy mà Páo viết thì vẻ hoang mang lộ ra trên khuôn mặt. Anh cũng lấy giấy viết gì lên đó rồi lại gập vào đưa cho ông già.
Mùa cấy, những thang ruộng Sín Chải long lanh nước. Những thảm mạ mịn như lườn con bê non. Sử đang ở ruộng ra mạ cho vợ thì đứa con chạy đến, gọi về. Sử về thì đã thấy ông bố Páo ngồi đấy nên biết ngay là có chuyện. Sau khi hỏi han tình hình Páo, Sử còn gói mấy viên kháng sinh phòng khi Páo bị nhiễm trùng còn uống, đưa cho ông già. Trước khi về, ông già còn bảo.
– Tôi nghĩ, hang Đùng Đeng còn một cái nhánh nữa đi lên Mùa Sán. Hồi trước, tôi có nghe một người bạn nói rằng bố anh ta là bộ đội tiễu phỉ, đã từng vào tận một cái ngách hang rất sâu, thông ra phía đường biên để bắt một tên phỉ nguy hiểm. Nhưng đó không phải là ngách hang thông ra ngọn khe Pá. Giờ thì anh ấy không ở Mường Thàng nữa, ở rể nhà vợ nghe đâu tận Mường Lò. Tôi đã tìm kiếm rất nhiều lần nhưng không thấy cái cửa hang đó. Mà xét ra, ngôi nhà Thào Chớ đang ở là có từ lâu nhất, từ thời ông nội, cha và đến Thào Chớ đều ở trên nền móng ấy và nhà đều dựa vào vách núi. Cái hầm rượu nhà Thào Chớ rất có thể là một ngách hang ăn thông với Đùng Đeng. Tôi đã nói điều này với Páo nhưng Páo vẫn chưa có cách tiếp cận cái hang. Nhưng tôi đã có cách để đo độ dài các ngách hang và so sánh với khoảng cách ước lượng trên thực tế!
Sử sốt ruột:
– Bác nói rõ xem nào?
Ông già gật đầu:
– Chúng ta bắt đầu từ khe Pá. Đó là cửa hang. Chúng ta đi vào hang Đùng Đeng, sau khi tụt xuống độ năm chục mét theo sườn núi thì bắt gặp rất nhiều nhánh hang nhỏ. Trong đó, có nhánh đi theo hướng Đông Bắc, đến sau lưng nhà Thào Chớ. Tại đó, dây rừng mọc rất nhiều. Ta cứ rút một sợi dây là biết ngay chúng sẽ đi đến đâu, và có thể dừng lại ở đâu? Tôi đã rút một sợi dây đồng tiền rất dài, đến ba chục mét. Lạ lùng là đầu dây đã bị bẻ đi. Là vết bẻ gập xuống bởi bàn tay con người chứ không phải do con gì cắn. Vậy thì cái hang đó không phải cụt. Có kẻ nào đó dùng đá chặn ngang lại và tạo ra một chiếc hầm tự nhiên. Nhưng khi cần, chúng có thể tẩu thoát về phía lòng hang Đùng Đeng. Theo tôi, cậu nên nói để câp trên sử dụng Chinh. Nó là đứa rất giỏi việc này này. Tôi đã rất tiếc là nó đã bị kẻ xấu mua chuộc, lợi dụng dẫn đến phạm tội. Nhưng nếu có cơ hội cho nó lập công chuộc tội thì cán bộ nên giúp nó.
Sử gật đầu thán phục. Nhưng trong đầu anh xuất hiện một sự tính toán cân nhắc. Việc này không thuộc phạm vi xử lý của anh nữa rồi. Đối với cấp trên, Chinh là một tên tội phạm nguy hiểm. Giờ không dễ gì họ lại thả hổ về rừng. Không thể thế được. Tuy nhiên, anh sẽ nói với lãnh đạo về đề xuất và phát hiện vừa rồi. Ngoài Chinh ra, vẫn còn những người rất thông thạo Đùng Đeng mà. Thực tế, vụ án tiến hành điều tra đến đâu và cấp trên giải quyết thế nào, ngay cả anh cũng không được biết. Nhưng Páo thì lại nghĩ là anh biết mà không nói nên sốt ruột lại càng thêm sốt ruột.
Bố Páo trở về nhà, đem theo thư của Sử. Páo đọc và thoáng buồn. Nhiệm vụ của anh là nghỉ ngơi và dưỡng thương chứ không phải lo nghĩ hay phán đoán gì cả. Anh không biết rằng bố anh vừa làm một cái việc vô cùng nguy hiểm, ấy là chui vào hang Đùng Đeng. Anh cũng không biết rằng chính câu chuyện về cái củ mài ăn xuống đã gợi ý cho ông cái việc làm táo tợn ấy. Những lúc nằm nhà thế này, Páo mới có điều kiện ngắm nhìn lại toàn bộ cơ ngơi nhà mình. Anh thở dài, nhà đã quá cũ nát. Ngôi nhà này, bố mẹ và anh dựng từ mười lăm năm trước, lúc anh mới cưới vợ. Riêng mái prô xi măng thì được lợp mới tới ba lần vì mưa đá. Trận mưa đầu tiên vào cái đêm vợ Páo sinh con bé đầu lòng. Cả mẹ và con được sơ tán xuống gầm giường. Sau trận ấy, nhà chưa có tiền mua ngói để lợp nên lợp tạm bạt nhựa mua trên phố huyện. Mãi sau này, phải bán đi mấy con lợn và vay mượn thêm mới có tiền mua mái lợp. Trận mưa đá thứ hai, lúc ấy Páo đã là công an viên của thôn. Trận này cũng vào ban đêm, lúc cả nhà đang say giấc nồng. Trận này mưa nhỏ hơn nhưng gió bão thì lớn nên mái ngói bị lột lên, ném xuống vỡ vụn. Còn trận gần đây nhất thì thật sự là kinh hoàng. Mấy trăm ngôi nhà lợp ngói prô của vùng Mường Thàng này bị mưa đá giáng xuống, ngói vỡ vụn như cám.
Mưa đá vùng núi này sợ lắm. Viên bé thì bằng quả mận, nhưng có viên to bằng cái ấm tích, cái bát tô. Trúng vào người còn trọng thương cơ mà. Gia súc với gia cầm thì chết là cái chắc. Lần này, nhà nước hỗ trợ cho bộ mái. Tuy nhiên, đó chỉ là thứ che đậy bên trên, chứ trong nhà không có gì đáng giá cả, ngoài con người. Bộ bàn ghế cũ từ đời nảo đời nào. Cái đài cát sét chạy pin tốn kém quá cũng dừng nói cả năm nay rồi. Trong buồng thì có cái tủ gỗ để đựng quần áo và một cái hòm để ngô một ngăn, lúa một ngăn. Tuy không phải đong ăn vào lúc giáp hạt, nhưng cũng chẳng có dư hạt nào để bán cả. Thế thôi, sau này có điện, cố gắng dành dụm mua lấy cái tivi cho ông bà già và bọn trẻ con xem nữa là ổn rồi. Xét ra, nhà Páo thế này, còn tươm chán so với nhà thằng Chúng ở bản Lùng Vài. Lùng Vài cũng là đất biên giới, cũng nghèo như Mùa Sán nhưng gia cảnh thằng Chúng thì khốn khó hơn nhiều. Bà mẹ già mắc chứng tâm thần sau trận cháy nhà từ chục năm trước, cũng chẳng có tiền mà đi chữa. Con của Chúng ba đứa thì một đứa bị dị tật ở chân từ lúc sinh ra, đến giờ đã chục tuổi mà không đi không đứng được. Hai đứa còn lại đều bị còi xương. Chúng nuôi con vất vả lắm. Tiền trợ cấp xã hội cho bà mẹ và đứa con dị tật được bốn trăm nghìn một tháng. Giờ này vào nhà Chúng, cái ghế còn không đủ ngồi vì bà mẹ tâm thần hay bỏ vào bếp đốt mà sưởi. Cái bát không đủ ăn vì bà hay đập vỡ, cái chén cũng không đủ uống. Chúng lại là anh cả của ba đứa em và ông bố thì mất sớm. Nhiều khi, lúc họp tổ, thấy cái áo của Chúng sờn rách trong khi của mọi người vẫn lành dù cùng được phát cùng thời điểm. Đủ biết là Chúng đã làm việc cật lực thế nào. Mùa đông Ngải Thầu rét thế, Chúng cũng không dám mua thêm cái áo ấm. Mùa hè, cả cái xứ Mường Thàng này nóng như rang, Chúng cũng không có cái áo mỏng hơn mà mặc. Ấy vậy mà Chúng luôn làm tốt nhiệm vụ được giao và được bà con tin tưởng, yêu quý. Vậy mà, có điều kiện hơn Chúng như thế, lí do gì để Páo không làm tốt được chứ.
Những ngày nằm nghỉ ở nhà là những ngày Páo suy nghĩ rất nhiều. Páo thấy, đôi lúc Páo có thể cố gắng hơn một tí nữa và bớt đi những phàn nàn ca thán. Đôi lúc Páo có thể kiềm chế thêm một tí nữa, tránh nóng nảy mà làm mất lòng bà con. Đôi lúc Páo vẫn có thể tỉnh táo và bình tĩnh hơn để sự việc được giải quyết tốt hơn nữa. Sau này, nhất định sẽ thế. Hãy học sự bền gan, kiên nhẫn ngay ở Sử, hãy học sự lạc quan yêu đời ngay ở Chúng và những cộng sự của mình. Cả gia đình, cả dòng họ đặt niềm tin vào anh cơ mà. Năm nay Páo mới ba nhăm tuổi. Còn nhiều cơ hội để phấn đấu và học hỏi thêm nữa. Khi làm việc với bà con, đặc biệt là những đối tượng ít hiểu biết, không biết chữ và tiếng phổ thông, anh phải nhẹ nhàng hơn, thấu tình đạt lý hơn nữa…
Những ngày nghỉ là những ngày Páo thấm thía cái sự hi sinh thầm lặng của chính những người trong gia đình mình. Từ vợ, đến bố mẹ và các em, ai cũng gồng người lên, làm đỡ, làm thay một phần công việc cho Páo, để Páo thảnh thơi hơn, tập trung cho công việc của làng xã tốt hơn. Nhà hết không còn tiền mua thuốc, vợ anh bị viêm họng mà phải nhịn ho, hoặc ho thật nhỏ mỗi khi gần Páo. Mẹ anh cũng thế, ốm đau đều không kêu ca. Bố anh cũng vậy. Cuộc sống cứ như thế này từ lâu rồi, và cũng quen rồi. Vợ anh, sáng lên nương, chiều về. Mẹ anh thì hết măng lại củi, hết rừng non rừng già. Bố anh thì đi tìm cây thuốc, đên chợ phiên thì đem bán kiếm thêm vài đồng mua muối. Rảnh thì đan cở, bện thừng, đan quạt, vừa dùng, vừa làm quà cho bà con họ hàng vào cái ngày gieo hạt đầu năm.
Những ngày nghỉ, Páo xâu chuỗi mọi việc, từ khi Thào Chớ ghét mình, đến lúc thân mình, rồi giờ lại sai tay chân đánh mình. Đứng sau lưng Thào Chớ hẳn là một thế lực nào đó ghê gớm lắm thì mới dám liều lĩnh như thế chứ. Páo sinh ra lớn lên ở Mùa Sán. Họ Tráng là một trong những họ lớn nhất Mường Thàng này, không thua họ Giàng, họ Mã, họ Sùng, họ Vàng…Vậy mà Thào Chớ dám làm như vậy ư? Nhiều khi Páo sốt ruột mà không được. Sử vẫn nói, cấp trên không hề bỏ qua một biểu hiện nghi vấn nào dù chỉ là nhỏ nhất đối với bọn tội phạm chính trị. Bọn này còn nguy hiểm hơn cả tội phạm ma túy. Vì chúng gieo rắc nỗi hoang mang lo sợ cho đồng bào. Chúng cam lòng bán rẻ lòng tự tôn dân tộc để làm tay sai cho kẻ xấu sai bảo. Tất cả những kẻ đó, cuối cùng đều phải nhận bản án khắt khe từ pháp luật. Vùng Mùa Sán, bà con đói khổ, con người ta có thể hoa mắt vì tiền, vì lương thực và những hứa hẹn về một cuộc sống đầy đủ. Nhưng nếu kẻ nào đó cam tâm phá hoại cuộc sống yên ổn của bà con, đẩy xã hội vào chỗ hỗn loạn, tăm tối hơn, thì kẻ đó phải bị trừng trị thích đáng. Sử đã nói thế. Cái nôn nóng vạch mặt kẻ gian tà và trừng trị kẻ xấu của Páo đã được Sử giải thích như thế.
Trong khi rất nhiều vị quan xã bình chân như vại, vẫn ngang nhiên hưởng lộc từ Thào Chớ và cho rằng Sử là kẻ kém tài thì Páo lại nghĩ Ngải Thầu có được Sử là thật sự may mắn. Mường Thàng sinh được những người con như Sử thật là niềm vinh dự. Vì những công việc Sử và đồng sự của mình làm là những công việc âm thầm, không thể tung hô trong hội nghị, tiệc tùng, không thể bàn tán, tâng bốc nhau trên bàn rượu, thậm chí không thể khoe với vợ con, bố mẹ. Vì thế, xã hội không phải ai cũng hiểu, cũng ghi nhận những thành tích của các anh. Khi làng bản bình yên, có ai nói lời cảm ơn đối với lực lượng công an, nhỏ nhất là công an viên không nhỉ? Nhưng khi có biến, có loạn, có giết chóc, có trộm cướp thì họ lại thở dài. Loạn hết cả rồi, công an đâu cả, làm bù nhìn à? Hơn nữa là toi cơm, toi cháo. Và tệ hơn nữa là cho rằng công an cũng thông đồng, cũng tiếp tay cho kẻ xấu hoặc làm ngơ cho kẻ xấu hoành hành. Nói một cách vu vơ, bừa bãi, tùy tiện như vậy là có tội đấy. Cứ nói cho sướng mồm thôi, nhưng người có mặt tại những nơi nguy hiểm ấy, rắc rối ấy, thị phi ấy, lại chính là công an. Tuy không phải là lực lượng chính của ngành và những công việc giải quyết cũng trong phạm vi nhỏ, hẹp mà Páo còn thấy khó khăn đầy rẫy và nhiều lúc bế tắc. Vậy, với những đối tượng tội phạm nguy hiểm thì những cán bộ công an khi đối đầu với chúng sẽ chịu áp lực lớn đến thế nào?
Nói chung, công việc của Páo là một công việc khó tìm được sự đổng cảm. Bạn bè thời đi học của Páo rất đông, đến mấy chục đứa ở Mường Thàng này đấy. Riêng Ngải Thầu cũng có năm đứa. Nhưng chúng nó toàn xa lánh Páo, như thể chơi với Páo thì sẽ gặp rắc rối. Có đứa còn nói toẹt. Chơi với Páo là chơi với con dao hai lưỡi. Lúc mình có chả may thế nào, nó sui người tóm mình ngay, vào tù như chơi. Thì hẳn nhiên là thế rồi. Chứ làm công an mà lại bỏ qua hành vi phạm tội của bạn bè, người thân, thì còn gì là pháp luật. Vì thế, từ hồi còn làm công an viên thôi, Páo đã thấy bạn bè lần lượt xa rời mình. Rồi đến khi lên đến cấp phó thì thôi, cứ gọi là một mình một ngựa, cô độc lắm. Thi thoảng có thằng bạn, hoặc bố thằng bạn tìm đến, cũng là do nhà nó mất trộm hoặc có rắc rối gì đó cần đến công an giải quyết. Thế thôi. Chứ trong đám cưới, trong cuộc rượu chè hay cuộc vui nào đó, Páo đến, chúng nó còn mất tự nhiên hẳn. Có khi còn lặng lẽ giải tán. Chúng xem Páo là kẻ phá đám thì phải.
May mà cây gậy của cái bọn ấy còn chừa cái đầu Páo ra. Nếu không, giờ này, đã chẳng nằm đây mà nghĩ ra từng ấy điều mạch lạc như vậy. Nói thì được. Nhưng Páo bị hạn chế rất nhiều bởi cái vốn tiếng phổ thông chưa thật nhuyễn và bởi cái đường học hành của Páo không cao. Nhiều khi Páo không biết con ấy là con gì? Cây ấy là cây gì và thứ đó gọi là gì? Ti vi lại không có xem. Nghe đài thì cũng không thường xuyên nữa. Kiến thức thì như tấm áo hẹp, không đủ che một cơ thể cường tráng, nên tránh sao được lúc bung chỗ này, khi nứt chỗ kia. Nghĩ cũng buồn. Có lúc Sử nghiêm khắc với Páo. “Cậu là hay nghĩ tiêu cực lắm đấy”. Rồi có lúc Sử lại đồng tình với Páo. “Không biết bao giờ Ngải Thầu mới khá lên được”.
Đang nghĩ rông rài thế thì nhà có khách. Páo sửa soạn ngay bộ mặt tươi tỉnh khỏe khoắn đi ra cửa. Giật mình. Thì ra là cái chị Xuy độ trước chết hụt vì lá ngón. Trông thấy Páo, chị ta lúng túng giấu cái gì đó ra đằng sau, hỏi vẻ nghi ngờ.
– Tưởng chú ốm, sang xem thế nào mà!
Páo lắc đầu:
– Ốm đau gì đâu? Ai bảo chị thế?
Chị kia cười gượng:
– Thì gặp ông đi lấy thuốc ngoài rừng, bảo thuốc cho chú!
Páo mỉm cười, mời chị ta vào nhà. Chị ta đặt xuống bàn cái bọc rơm. Nhìn qua là Páo biết trong ấy có ba quả trứng gà. Páo bảo:
– Tôi đau cái chân thôi, chứ không ốm!
Chị Xuy cứ đẩy ba quả trứng về phía Páo mà nói:
– Gà của nhà đẻ đấy, chú ăn cho khỏe, kể từ hôm được chú cứu sống, đã có gì để sang nói chuyện đâu, nhân đây cảm ơn chú. Páo nói:
– Ơn huệ gì, chị mang về cho các cháu ăn. Thế anh nhà chị thế nào?
Chị ta cười rất tươi:
– Sau lần mình chết hụt, nó cũng khỏi rồi, không chơi nữa. Giờ đã biết cầm con dao, cái cào lên nương với vợ con.
Páo cũng cười và cầm cái bọc rơm lên, dúi vào tay chị ta:
– Thế là tốt rồi. Chị mang về, khi nào tôi ốm thật, tôi sẽ nhận!
Chị Xuy thật thà cầm ba quả trứng gà và chào về, vẻ mặt có vẻ ái ngại. Bụng nghĩ, thế mà ở đây, dân đồn om lên là chú ấy bị đánh gần chết không đi lại được. Cái mặt hơi tím một tí thôi, nhưng chắc là không sao.
Đợi chị ta về hẳn. Páo thở phào. Rồi lại tập tễnh đi vào nhà.