Hôm nay là ngày tốt. Ngày con chim bắt sâu trừ họa cho cây cối. Ngày vừa tạnh mưa là có mặt trời sưởi ấm đất. Ngày con người ta đầy khí thế sau một cái tết dài say sưa ăn uống, rã rời chơi bời, hội hè, thăm thú. Cả bản, già trẻ, trai gái, lớn bé đều kéo ra nương ra ruộng. Người cày cuốc, người phát đốt, người chọc lỗ bỏ nhạt. Nhà nhà, người người cùng làm. Người ta bảo ngày này là ngày tết trồng cây, là ngày tân binh lên đường nhập ngũ, ngày khai khẩn nương ruộng. Ở Sín Chải, đàn bà đảm đang, chăm chỉ được chọn để xông ruộng nương nhà mình. Ở Mùa Sán, đàn ông khỏe mạnh được chọn. Mỗi nhà có một người đi trước lên nương từ lúc rạng sáng, cầm ít hạt giống ném xuống đất. Sau đó, đợi sương tan thì cả nhà mới cùng lên.
Nhà người ta đông người thì mới phải chọn. Chứ nhà Chinh, nhà Đái, hai anh em, không ai bảo ai, tự động dậy, mang hạt giống đi. Hạt giống là hạt ngô, hạt lúa và hạt rau. Với người Mông, hạt ngô là hạt giống quan trọng nhất. Vì ngô vừa là lương thực chính, và cũng là nguyên liệu chính để cất rượu. Nương nhà Chinh ở cạnh nương nhà Páo. Nhưng nương nhà Chinh nhiều đá hơn, vì lâu rồi Chinh không chịu vần đá, cạy đá. Hạt nào rơi trên đá thì con chim, con sóc còn kiếm được miếng. Chinh và hai đứa con gái lớn hơn đi nương. Chúng nó lớn thế rồi mà còn vụng về lắm. Đứa lớn bảo bố.
– Hôm nay con nhờ được người làm nương cùng nhà ta rồi!
Chinh khịt khịt mũi:
– Tao không khiến đứa nào cả. Làm nhiều ăn nhiều, làm ít ăn ít!
Đứa con gái chưa kịp phân giải gì thì từ dưới bìa nương đã đi lên một chàng trai trẻ trạc ngoài hai mươi tuổi. Nhìn đầu tóc, quần áo thì biết ngay là người Kinh. Con Sấu đỏ mặt, bối rối nhìn bố. Chinh nhìn người thanh niên tỏ ý coi thường và đưa vào tay cậu ta cây gậy. Chàng trai trẻ sau một lúc lúng túng thì cũng đã biết dùng gậy chọc lỗ, để con Sấu bỏ hạt xuống. Khoảng nương này, lẽ ra là Chinh đã đào làm ruộng bậc thang để trồng lúa nước rồi. Nhưng xét thấy nước khan hiếm nên tranh thủ cái mưa trời mà bỏ xuống hạt ngô thôi. Cây ngô dễ tính và sống kham khổ hơn cây lúa.
Chinh cũng chả thèm nhìn hai đứa cho chúng nó mất tự nhiên. Chinh bỏ ra bìa nương, tìm cái điếu ục để trong bụi rậm, lau chùi qua loa rồi lấy bình nước mang theo, đổ vào và mồi thuốc hút. Tiếng cười bên kia nương khiến Chinh đứng dậy, nheo mắt nhìn sang. Thì ra là vợ chồng nhà Páo. Hình như vào ngày chào nương, khai xuân, ông cán bộ nào cũng nghỉ việc ủy ban, ở nhà đi nương nịnh vợ. Cả năm bọn đàn bà lủi thủi một mình rồi, ngày này mà các ông không nịnh nó tí, nó chả vứt mẹ cào cuốc đi. Nghĩ thế, là vì Chinh không biết hôm nay là thứ bảy, cánh ủy ban được nghỉ. Nhìn cái cảnh họ có đôi, có lứa, chồng cào cỏ, vợ dọn sạch, đứa con thì lon ton bắt châu chấu cho chim. Chúng còn xách cả cái lồng chim ra bìa nương để chim hót cho vui. Hồi Mỷ còn ở nhà. Mỷ còn mang cả gạo, cả nồi lên nương để nấu bữa trưa ấy chứ. Ăn trưa ở nương, dưới bóng cây cũng thích lắm. Nhưng giờ thì chả còn gì mà thích thú nữa cả. Bỗng nhiên Chinh ao ước được như Páo. Cuộc sống của nó chả có vẻ gì là dư dả cả, ấy vậy mà cứ ríu rít vui vẻ. Không biết từ khi nào mà Chinh lại không ưa Páo nhỉ? Có lẽ là từ khi mấy đứa khách Kiều A bước vào cuộc đời Chinh và làm xáo trộn mọi thứ. Chúng nó, những đứa mà Chinh quen gọi là khách ấy, có hai đứa là em rể Chinh, có đứa là em rể Thào Chớ và những người họ hàng, bà con xa gần của chúng nó. Chúng nó cũng là người Mông, cũng cùng một tổ tiên, một giống nòi với Chinh. Nhưng tại sao cái suy nghĩ của chúng nó luôn bỏ xa suy nghĩ của người Mường Thàng một bước? Kể từ khi phong thanh tin vợ mình bị bán sang bên kia biên giới, trong lòng Chinh nảy ra một sự ác cảm. Mọi lời chúc tụng của chúng nó trở nên trống rỗng, giả dối. Mọi lời hứa hẹn của chúng nó trở nên nham hiểm. Chúng nó chỉ muốn người Mông bỏ đất, bỏ bản mà đi. Chúng nó chỉ muốn người Mông chống đối lại chính quyền, quay lưng lại với cộng đồng mà thôi. Tại sao chúng nó phải làm thế? Tự nhiên Chinh muốn rũ bỏ cái quá khứ tội lỗi. Tự nhiên Chinh muốn cắt đứt mọi quan hệ với chúng nó một cách rạch ròi, như nhát dao phạt ngang thân cây chuối. Nhựa có chảy, nước mắt có rơi, anh em có thể xa lìa, nhưng đổi lại, Chinh có một cuộc sống tự do, tự tại, giống như thằng Páo và những thằng trai Mông khác ở bản. Bạc để làm gì? Tiền để làm gì khi mà con người ta luôn bị kẻ khác buộc dây vào cổ miết đi hết ngả này ngả khác. Chinh thường vằng lên, thường vỗ ngực rằng không kẻ nào có thể sai khiến Chinh nhưng thực ra Chinh đang bị phụ thuộc vào kẻ khác. Kẻ đó không cho Chinh dừng lại nữa. Nếu Chinh cố tình trái ý chúng, có thể Chinh sẽ phải ngồi tù. Chinh cũng chẳng sợ tù. Chết còn không sợ, huống gì tù. Nhưng Chinh sợ cô đơn. Ngày gieo hạt. Người cắm dùi, người bỏ hạt. Chinh có hai bàn tay, tự hai bàn tay làm lấy việc ấy. Thật là hổ thẹn với đất trời.
Ngày gieo hạt. Cả bản đi nương đi ruộng. Lẩu ở nhà tỉ mẩn mang bạc ra đếm. Như sợ một ngày nào đó tỉnh dậy, không còn thấy bạc đâu. Ai gieo cứ gieo, đây chả cần gieo vẫn cứ được gặt. Mà không phải nhặm nhuội thóc lúa gì cả. Gặt luôn bạc trắng giắt cạp quần cho gọn. Lẩu ngắm nghía từng đồng thật kĩ rồi thả chúng vào bát rượu, sau đó vớt từng đồng ra, lấy giẻ khô lau cho từng đồng sáng lên mới thôi. Cả cơ nghiệp có từng này. Bốn chục đồng là cùng. Cưới con Su, thằng chó chết Đái đòi những mười lăm đồng. Nhưng rồi, sau này mày vừa phải nôn ra bạc, vừa phải nôn ra máu mà chết thôi. Cưới vợ cho con trai là hao bạc nhất đấy. Nhưng tre già măng mọc. Nếu không thế làm sao có cháu mà bế? Nếu không thế, xã hội này rồi chỉ toàn người già ở với nhau, rồi suốt ngày ra bẳn vào cáu. Lúc May đi nương, May có giục Lẩu, nhưng Lẩu bảo Lẩu có khách nên ở nhà. Chả có khách nào cả. Từ lâu, bàn tay Lẩu không cầm cuốc, cầm cào, cầm cày bừa nữa rồi. Những nhà mà Lẩu cúng cho thường vác trâu cày báo ơn Lẩu. Vợ con Lẩu chỉ việc cấy thôi. Kể cả khi đi gặt, cũng có người gặt giúp. Chỉ khi nào Lẩu thấy bất an, hoặc nghĩ rằng cái gã hàng xóm làm nương cạnh nương nhà Lẩu có con vợ ốm nằm co quắp ở nhà thì Lẩu mới đi nương thôi. Cũng chỉ láng cháng lượn lờ cho phải phép rồi Lẩu lại về. Từ hồi thanh niên, Lẩu vẫn là đứa ham ăn ngon, mặc đẹp nhưng lại ngại lao động chân tay. Ai chả biết thế, giờ hơn bốn chục tuổi rồi, cố làm lụng cũng chả được gì cả.
Lẩu còn nhớ, mùa lúa chín năm trước, khoảng tháng tám, tháng chín âm lịch gì đó. Hôm ấy nổi hứng Lẩu đi thăm lúa. Trước đó, May cũng nói là đi nương, nhưng không nói là đi nương lúa hay nương thuốc lào. Lẩu vừa đến nương thì trời đổ mưa nên vội vàng chui vào hốc đá mà náu. Bìa nương nhà Lẩu là một bãi đá. Đá đứng đá ngồi đè lên nhau tạo thành những cái hang nhỏ một người ngồi thì rộng mà hai người thì chật. Đang ngồi trong hang thì Lẩu nghe tiếng khèn lá đâu đây vọng vào. Tiếng mưa và tiếng gió rất lớn, nước đã chảy vào chỗ Lẩu ngồi mà tiếng khèn lá vẫn vọng vào. Quái lạ. Ai lại thổi kèn lá giữa chốn hoang vắng thế này. Nhất là tiếng khèn ấy, lời tự tình của một đứa trai thầm thương trộm nhớ một cô gái mà vì trái ngang, hai người không đến được với nhau. Vốn tính đa nghi, Lẩu trùm áo lên đầu, khom người chui ra khỏi hang và mon men bước về phía tiếng khèn lá.
Thì ra, tiếng khèn chui ra từ một cái hang lớn hơn sâu hơn vào trong núi. Cái tiếng khèn lá vừa quen vừa lạ ấy như dắt Lẩu đi. Và rồi Lẩu nhận ra cái mũ bện bằng lá móc của bố mình che phía ngoài cửa hang. Lẩu đưa mắt nhìn quanh, thấy một đoạn cây to bằng cổ tay, vẻ còn chắc. Lẩu cầm đoạn cây lên, khẽ chọc vào chiếc mũ. Chiếc mũ bung ra, nằm ngửa giữa trời mưa. Trong hang là May, đã dừng khèn, mở mắt nhìn Lẩu trân trối. Thổi khèn lá thì có tội gì chăng? Lẩu thét lạc cả giọng:
– Mày ra khỏi hang mau!
May đứng dậy, bước ra giữa trời, mặt May cũng giống như chiếc mũ lá, bị mưa quật vào bôm bốp. Lẩu tiến lại, dùng gậy chọc vào miệng hang. Nhưng hang cụt. Trong hang không có ai cả. Lẩu đưa tay dụi mắt. Hay là mưa dày quá mà Lẩu không nhìn thấy một cái bóng đàn ông vừa chạy vụt ra? Hay mắt Lẩu mờ, không nhìn thấy bố mình đã ra khỏi cửa hang chỉ trong nháy mắt? Lẩu tức tối, đưa chân giẵm bẹp cái mũ lá. Người ta trời mưa thì chui vào, đằng này vợ chồng Lẩu, giữa trời mưa to thế, giong nhau đi, không ai nói với ai câu nào.
Về gần đến bản thì hai người gặp một cái chuồng dê nhà nào đó nhưng đã lùa dê đi đâu hết. Dưới nền đất chỉ còn dấu chân và phân dê ngập ngụa bốc mùi. Cả hai, không ai bảo ai cùng chui vào chuồng dê vì mưa mỗi lúc một to. Lúc đó, Lẩu mới dứ cái gậy vào đầu May mà dằn dọc.
– Về nhà sẽ biết tay tao!
May không nói gì cả. Mặt cứ câng câng, vẻ như chả có gì mà phải sợ. Vẻ như thách thức mày muốn làm gì tao thì làm. Cơn mưa càng lớn, có bao nhiêu nước nhà trời, dành hết cho cơn mưa này thì phải. Có bao nhiêu ghen tuông, hằn học, Lẩu muốn trút lên đầu May lúc này thì phải. May như nhận ra sự toan tính độc ác khác thường trong mắt Lẩu thì cô vội vàng chạy ra mưa. Lẩu sững người một lát rồi cũng chạy theo. May không chạy về nhà, mà chạy về phía chân núi Plâu. Lẩu vội vàng chạy theo và vung gậy lên. Đúng lúc ấy thì Lẩu vấp vào một cái rễ cây trong rừng bò ra lối đi. Lẩu ngã sóng soài. Còn May thì chạy đâu mất. Là cái rễ cây đã cứu May.
Lẩu dầm mưa về đến nhà thì không thấy vợ đâu cả. Mưa gió như thế, nó đi đâu không về. Lẩu mò sang nhà anh trai, thấy ông Dính đang ngồi bện trạc. Quen như mọi lần, Lẩu sinh sự. Ông già không nói gì. Lẩu cằn nhằn một lúc rồi về. Ra đến cửa thì Lẩu nghe ông Dính bảo là mai sẽ đi Sìn Hồ thăm bạn và sẽ ở bên ấy chơi, tết mới về. Lẩu không biết Sìn Hồ là nơi nào cả nên mặc kệ. Cả đêm không thấy May về nhà, Lẩu điên cuồng sục sạo cho dù trời vẫn còn mưa. Rồi Lẩu nghĩ đến chuyện ông Dính bảo đi chơi nhà bạn. Biết đâu đấy, hai người lại bỏ trốn đi với nhau?
Sáng hôm sau, Lẩu dậy sớm, vác gậy theo, nấp vào tảng đá lớn đầu bản. Ông Dính đầu đội mũ lá móc, chân đi dép nhựa, vai đeo túi thổ cẩm thong dong trên đường. Lẩu lặng lẽ bám theo. Đến đoạn có lối rẽ lên núi Plâu thì bất ngờ ông Dính quay lại. Dường như phát hiện ra Lẩu đang bám theo mình nên ông không đi tiếp mà quay lại. Khi ông đến chỗ cua thì Lẩu nấp vào tảng đá ven đường, đợi ông đi ngang qua thì lao ra vung gậy, vạng một nhát thật lực vào gáy ông già. Ông già gục xuống bất tỉnh. Lẩu sợ quá kéo ông vào bụi cây ven đường, lấy lá che lên và bỏ về. Đến tối, Lẩu lấy cớ là ra ngoài Sín Chải thăm người ốm, Lẩu đi ra chỗ bụi cây mình giấu xác bố thì không thấy ông đâu nữa cả. Lẩu thở phào nhẹ nhõm. Thế là ông ấy đã hồi tỉnh, không chết, và chắc lại đi Sìn Hồ gặp bạn rồi. Tháng Chạp gần cạn, không thấy bố về thì các anh chị Lẩu mới kéo nhau đi tìm. Nhưng không thấy tăm tích gì cả. Họ mặc nhiên coi là ông bỏ nhà đi mất tích. Và thật lạ là không có ai nghĩ rằng ông đã chết ngoài những cơn ác mộng cứ rủ nhau về hành hạ Lẩu.
Từ khi vợ Đái phát hiện ra bộ xương trên núi Plâu, Lẩu ngờ ngợ rằng mình đã giết người. Rồi Lẩu lại tự hão huyền mình rằng Lẩu không làm việc ấy vì cái đầu của ông ấy đâu. Chắc kẻ nào đó tưởng ông mang theo trong người vàng bạc nên đã giết ông cướp của. Hay là ông tự bò lên đó rồi chết gục? Thế thì cái đầu bay đi đằng nào? Mà nếu tự bò đi được thì ông phải bò về nhà và tố cáo Lẩu với các anh, các chị chứ? Nói tóm lại, Lẩu là người vô tội. Chả có ai dám buộc tội Lẩu cả.
Hôm ấy, sau khi ra một đòn chí tử vào bố mình, quay về, Lẩu thấy May ngồi thản nhiên bên lửa. Lẩu hỏi mày đi đâu cả đêm qua không về? May bảo May về nhà mẹ, không tin thì về nhà mà hỏi. Lẩu cứng họng. Con này, đã lười còn tinh vi, đi về như âm binh. Hay là nó biết chuyện gì mà mắt cứ giương lên nhìn Lẩu như thách thức?
Hôm nay, nó rủ Lẩu đi nương. Rủ lấy lệ thôi chứ Lẩu biết nó thích đi nương một mình. Vì ra đó, nó còn thoải mái cái ánh mắt mà đưa tình cho nhau chứ. Dù là gửi ánh mắt ấy vào gió, vào mây thôi. Từ lâu, Lẩu vốn để dành cho nó một sự trừng phạt. Nhưng việc cũ chưa nguôi ngoai. Lại đang phải đối phó với anh em nhà thằng Chinh nên tạm thời tha cho nó. Cái giống phản thừng ấy. Nhìn qua mặt là biết thôi. Sớm hay muộn gì thì nó cũng bán rẻ mình. Bên Kiều A, không biết có bán cái loại thuốc mà uống vào là ngọng luôn, không thể nói năng gì nữa. Có như thế, sẽ mua cho nó một liều. Lại nói đến bọn Kiều A. Hôm nay nhà Thào Chớ nhập về một mẻ hàng lớn. Lẩu đã một lần khám phá cái hầm rượu ấy, Lẩu biết. Cơ đồ của Thào Chớ đang rộng mở ở phía trước. Thào Chớ chọn ngày gieo hạt để tổ chức hội nghị thì quả là cao tay. Lẩu tuy không được mời đến nhưng Lẩu biết, nếu có bổng lộc, có phú quý vinh hoa, thế nào Thào Chớ chả chia cho mình một chút.
CHƯƠNG 16
Con Su đứng chưa cao bằng lưng con dê đực nhà mình. Đái hớn hở chạy ra chạy vào phấn khởi lắm. Sắp lên bố vợ có khác. Cũng sang tuổi ba mốt rồi còn gì. Vừa mới ngày nào nó đỏ hỏn, o oe trong mớ váy áo cũ ở xó nhà, giờ đã sang tuổi mười bốn, đã mang về cho bố mười lăm đồng bạc giắt lưng làm vốn. Lần đầu tiên trực tiếp lo liệu một công việc to lớn thế này, Đái thấy lo lắng quá. Con Su thi thoảng lại hỏi bố trống không. Nó có vẻ ái ngại:
– Thế không ra ủy ban trình báo hả bố?
Đái cau mày, lườm con gái lớn:
– Trộm cắp gì mà trình báo, hả? Đi lấy chồng chứ có phải đi trốn, đi chết đâu mà sợ?
Con Su vẫn chưa yên lòng. Đái xoa dịu con gái:
– Nghe này, mày mới mười bốn, cứ đi lấy chồng, làm dâu đi đã, đẻ xong rồi ra ủy ban đăng kí là vừa. Chứ bây giờ ra, người ta phạt cho, rồi đuổi về!
Thấy mắt con gái thập thò hai dòng nước mắt. Đái gắt khẽ:
– Ngu quá. Về nhà nó, suốt ngày ăn xôi thịt, chả sướng hơn ở nhà chăn trâu, cõng em à? Mày xem, ở Mùa Sán này, có nhà nào khá hơn nhà nó không?
Con Su chưa thể nào tưởng tượng ra cái sự sướng khổ nên cứ đứng sừng sững trước mặt bố mà không biết nói gì. Mẹ mới chết được vài tháng, con đã đi lấy chồng, cứ thế nào ấy. Rồi nó không nhịn được, hỏi Đái:
– Thế cưới trộm hả bố?
Lần này thì Đái nổi đóa:
– Ơ hay, chứ công khai để chúng nó về bắt phạt à? Chỉ được cái nói đúng!
Su nhìn theo hướng bố chỉ ra cái nương dứa thì gật gù. Ý bố nó muốn nói rằng, phó trưởng công an xã mà biết thì sẽ phá đám.
Từ mấy hôm trước, Đái đã gặp Thào Chớ để trình bày việc nhà Lẩu xin hỏi cưới con Su cho thằng con trai đang học nội trú ngoài phố huyện. Thào Chớ gật gù:
– Cưới thì cưới thôi, đủ rượu, đủ gạo chưa?
Đấy, thấy chưa? Đến trưởng bản cũng chỉ hỏi rượu, hỏi thịt đủ chưa, chứ không hỏi tuổi có đủ hay không? Đái mừng rơn, đưa tay móc nghéo tay Thào Chớ rồi lật khật trở về bàn với Chinh kế hoạch mời khách Kiều A. Đái bảo:
– Mình ăn của người ta mãi rồi, giờ phải mời người ta ăn lại chứ?
Chinh nói thõng một câu:
– Ăn uống mời mọc thế nào tùy mày, đừng để ảnh hưởng đến công việc của tao là được!
Đái lấy làm lạ. Sao bỗng dưng có vẻ Chinh không thích việc cỗ bàn thế nhỉ? Thôi không nói chuyện khách bên kia nữa. Nói chuyện khách Ngải Thầu thôi.
– Thế có mời cán bộ Sử không?
Chinh cười khẩy:
– Cán bộ lại thèm uống rượu tảo hôn con mày chắc. Ngay như thằng Páo, mày mời chắc gì nó đã đến?
Đái cũng cứng cổ, cãi lại:
– Tôi chả mời chúng nó nữa, biết thì làm gì nhau. Có giỏi thì trói hai đứa chúng nó mà giải về ủy ban nhốt. Lũ chó chết, người ta làm ma bố người ta chúng nó cũng rình rập, bắt phải theo hương ước này nọ. Chôn ngày nào, giờ nào là quyền của người ta chứ. Người ta có con gái, gả lúc nào là của người ta, sao cứ nhúng mũi vào!
Chinh vằn mắt:
– Mày im cái miệng vào. Mày làm sai người ta mới phạt!
Đái giậm chân xuống đất, vằn lại anh trai:
– Nói cho anh biết, anh đừng có mà tin lời chúng nó. Chị Mỷ ở đâu giờ chỉ có tay Lẩu mới biết, chứ công an thì biết đếch gì. Trước đây anh có thế đâu, sao giờ bênh chúng nó chằm chặp…
Đái dừng ngang chừng câu nói thì bỏ về. Chinh vớ lấy cái điếu cày, nhồi thuốc. Nhồi đầy mà không châm lửa. Có nên đi gặp Sử lần nữa không nhỉ? Mà thôi, tại sao Chinh lại không tự đến nhà Lẩu? Mày là thông gia với em trai tao, mà dù có là thông gia với tao thì tao cũng phải nói chuyện đúng sai với mày một lần.
Chinh đến nhà Lẩu thật. Nhà Lẩu đông người. Toàn đàn bà, trẻ con. Mấy bà chị dâu của Lẩu, trông thấy Chinh thì bế cháu nhỏ chui tọt vào bếp như tò vò tha được nhện vào tổ. Bọn trẻ trai đang chơi quay ở sân thì vội thu quay lại, nhét vào túi quần, đứng nép vào nhau, như sợ Chinh cướp mất. Chinh hỏi vợ Lẩu:
– Thầy Lẩu có tiếp khách không nhỉ?
May vồn vã:
– Mời lên nhà, lên nhà thôi!
Chinh bước hai bậc cầu thang một, có ba bước là lên tới sàn. Lẩu đang ngồi ở đó dùng sơn đỏ vẽ lên một miếng giấy bản màu trắng ngà. Những cái chữ của Lẩu, Chinh chịu chết không đọc được. Chinh ngồi xuống, đối diện với Lẩu, nói rất thân tình:
– Đang tiếc bạc hả? Đổi bạc lấy người thì có gì mà tiếc. Có thứ còn quý hơn cả bạc đấy, như là báu vật ấy, có đổi không?
Lẩu ngừng vẽ, cắm bút vào lọ sơn, ngước nhìn Chinh như đong đo. “Rốt cục là mày muốn gì?”. Chinh cười gằn, giơ tay túm cổ áo Lẩu mà lắc:
– Mày biết con Mỷ ở đâu, sao lại không nói với tao?
Lẩu gỡ tay Chinh ra khỏi áo mình, đứng dậy, chối bay biến:
– Tao chả biết gì cả? Mà cũng nói cho mày biết. Cái thứ mày bảo là báu vật, với tao cũng chả quan trọng gì mấy. Nhưng với công an thì quan trọng đấy. Mày đang có trong tay bằng chứng về một vụ án mạng. Còn con vợ mày, bỏ nhà đi, đất này đâu có hiếm. Chả ai bận tâm cả đâu. Nó có chân đi thì cho nó đi. Mày để tiền mà cưới đứa khác, tiếc gì cái đứa bỏ chồng con theo giai!
Chinh nhổm người dậy, nhanh như cắt, một quả đấm tương thẳng vào cái miệng Lẩu với đôi môi dầy lúc nào cũng ướt át. Lẩu choáng váng, đưa tay quyệt ngang miệng và nhìn quanh để tìm vật gì đó hòng chống đỡ cơn giận của Chinh. Nhưng Chinh đã lên tiếng:
– Tao nói cho mày biết, một lần nữa mày còn thở ra cái giọng ấy, tao giết mày ngay lập tức!
Nhìn vào đôi mắt rực lửa của Chinh, Lẩu không dám nói gì nữa. Chinh đi xuống cầu thang, xuống sân và ra cổng. Không ai biết Chinh đi đâu, vì không ai dám nhìn theo bước chân của Chinh.
Lẩu thò hai ngón tay vào miệng nắn từng cái răng một. Tất cả vẫn chắc chắn, riêng hai cái răng bọc vàng thì hơi lung lay sau quả đấm chát máu miệng của Chinh. Đưa ngón tay lên mắt, Lẩu rùng mình. Máu đấy. Thằng thổ phỉ ác ôn. Ác thế nên mới mất vợ. Rồi Lẩu lại tự cười thầm. Mày ác thế đã ăn thua gì? Chả tội gì tao bỏ tiền ra chuộc cái thứ ấy cả. Chết là hết sạch. Mày càng ác thế thì tao càng phải làm thông gia với em trai mày. Tao sẽ sớm cho đứa cháu gái mồ côi của mày vào địa ngục trần gian…Sớm cho thằng em trai tham làm của mày sập bẫy.
Lẩu đang dương dương tự đắc với hàm răng vẫn còn nguyên vẹn thì Páo đi lên, đứng sững trước mặt Lẩu. Páo thì Lẩu không sợ, không việc gì phải sợ. Cứ bình tĩnh. Lẩu ngồi xuống. Cái môi đã dầy lại sưng vều lên như quả mướp đắng khiến Lẩu khá lúng túng. Páo vào chuyện một cách tự nhiên:
– Thằng Sáng mới mười lăm tuổi, còn đang đi học, sao đã vội tính chuyện vợ con cho nó?
Lẩu đưa tay che miệng, ngáp một cái, ra chừng cái đề tài này nhàm tai rồi, chả muốn nghe. Rồi Lẩu quát vợ chuẩn bị ngựa cho Lẩu đi đâu đó. Páo đứng dậy, kiên quyết:
– Tôi nhắc anh một lần nữa thôi, tất cả là tùy ở anh!
Lẩu buông tay ra khỏi miệng, đấm xuống sàn nhà, hùng hổ. Ơ hay, mày nói ai, dọa ai đấy hả? Mày tưởng mày ăn thóc của ủy ban là mày có quyền hoạnh họe, quát nạt nhân dân hay sao? Còn lâu nhé. Tao cứ cưới vợ cho con tao đấy. Đã thế tao còn làm cỗ thật to, mời thật nhiều khách, ăn ba ngày tưng bừng cho mày biết. Lẩu không nói ra những lời bực tức ấy, mà chỉ để trong bụng. Tuy nhiên, Lẩu nói như khiêu khích:
– Ối dồ, chuyện vui của trai gái Mông từ xưa đến giờ là do thần linh sắp đặt hết cả. Chú mày nhớ đến uống rượu, mừng cho các cháu nhé. Nhớ mời cả cán bộ Sử nữa. Lâu rồi cán bộ chê Mùa Sán thiếu rượu, thiếu thịt không lên!
Páo nuốt cục nghẹn trong cổ đi xuống cầu thang. Con ngựa tía của Lẩu đã dắt ra sân. Vợ Lẩu đang cẩn thận gỡ từng quả ké rừng lẩn trong tùm lông đuôi của con ngựa. Đôi mắt lá răm khẽ liếc qua Páo một cái tình tứ. Thật là chị nào em nấy. Lẩu nhìn thấy cái đuôi mắt của May thì bậm môi, giằng lấy chạc ngựa, nhảy phóc lên lưng và phi ra cổng.
Đái đang cùng vài người trong họ sửa sang, dọn dẹp cửa nhà để chuẩn bị vào đám thì thấy Páo đến. Đái nhìn thấy Páo thì giật mình, cho dù tinh thần đã chuẩn bị trước. Con Su nhìn thấy phó trưởng công an xã thì nửa mừng, nửa lo. Mừng vì bác ấy đã đúng hẹn với Su. Lo vì nhỡ bố Su làm to mọi chuyện và gây ầm ỹ, họ sẽ bắt bố Su đi nhốt thì sao? Páo sau khi ngồi xuống chiếc ghế cạnh bàn thì lặp lại lời nói như đã nói với Lẩu. Đái không phản ứng gì cả, cũng không mỉa mai. Chỉ hỏi lại:
– Thế tôi hỏi cán bộ, trường thì xa, con gái không đi học, ở nhà nhông nhông thế này cho người ta bắt đem bán mất à? Ngày trước, bố mẹ, ông bà, tổ tiên chúng ta đều lấy vợ, lấy chồng như thế, có ai cấm đâu? Sao bây giờ nhà nước lại cấm? Nếu không gả nó cho nhà người ta để lấy về chút bạc, nó bị bắt đi, cán bộ có chịu trách nhiệm không? Cán bộ là người Mông, là người gần gũi bà con nhất, mà cán bộ chả ủng hộ, bao bọc bà con gì cả. Lại còn ngáng chân, cản đường. Tôi buồn lắm. Chả phải là chỗ tôi thân thiết với Thào Chớ, nhưng tôi thấy cán bộ phải học hỏi trưởng bản nhiều lắm thì mới được lòng bà con!
Páo nghe thì biết rằng Đái đã được tiêm nhiễm và học thuộc những lời này nhưng Páo vẫn nhẹ nhàng:
– Chắc anh Đái có biết việc con gái nhà chị Xuy hồi năm ngoái..
Đái cắt ngang.
– Chả biết gì cả, con nhà Xuy chết là vì phúc đức tổ tiên nhà nó hết rồi. Chứ mẹ tôi, lúc đẻ chị gái tôi, bà cũng mười bốn tuổi!
Biết không thể cãi lí với Đái, Páo ra về. Đến cửa thì con bé Su nói với theo:
– Bác ơi, cháu chưa muốn lấy chồng đâu!
Páo quay đầu lại, đưa ánh mắt vỗ về nhìn nó, để nó tin tưởng.
Trên đường về, thấp thoáng qua khu vườn lê nhà Đái là những đôi trai gái tuổi mười bốn mười lăm đang tình tứ trêu đùa nhau. Mùa xuân là mùa cưới ở vùng núi này. Có gì lạ đâu chứ. Chỉ có cái việc đi vận động người ta đừng có để con cái tảo hôn mà cũng khó. Nói như mẹ Páo thì là làm cái việc ngược đời bao giờ cũng khó. Chả hóa, chính quyền trả lương cho Páo để Páo đi làm những việc ngược đời, trái với tập tục của chính đồng bào anh. Rồi chợt nhơ ra điều gì đó hệ trọng, Páo vội vàng quay lại nhà Đái.
Đái khá ngạc nhiên khi thấy Páo quay lại. Biết có việc hệ trọng, Đái đuổi con Su ra ngoài, không cho hóng chuyện người lớn. Páo ngồi im lặng đến độ Đái sốt ruột rồi mới nói nhỏ:
– Lẩu muốn cưới con Su về, chỉ là để lợi dụng, ràng buộc anh và Chinh mà thôi!
Đái chồm lên, nắm lấy vai Páo lắc mạnh:
– Ai bảo cán bộ thế? Tao thì có đếch gì cho nó lợi dụng?
Páo nhìn sâu vào mắt Đái mà nói:
– Anh chỉ cần tin tôi, hoãn đám cưới lại một thời gian là biết ngay. Với lại chị ấy vừa mất, anh làm thế, có sợ bà con, họ hàng chê cười không?
Đái ngồi phịch xuống ghế, hỏi lại Páo:
– Thế May có biết không?
Páo gật đầu.
– Có thể không biết. Nhưng tạm thời, anh cứ tỏ vẻ bình thường đã nhé, đừng nổi nóng mà hỏng việc lớn.
Lần này thì Páo về hẳn. Đái nắm chặt tay, nghiến răng, buông ra một tiếng chửi:
– Thằng chó, gì thế này. Con gái tao như thế, chúng mày dám mang ra mà làm trò hay sao?
Lẩu rình rập ngoài rào nhà Đái như chuột rình mèo. Không biết cái thằng phá đám ấy có khiến ông thông gia đổi ý hay không. Thằng này, thật không biết giời cao đất thấp gì nữa. Việc riêng của nhà người ta. Cứ chọc mũi vào. Vừa rồi Lẩu lừa nó. Lấy ngựa phóng đi để đuổi nó về thôi. Nó về là Lẩu cũng vòng về ngay. Mọi thứ đã chuẩn bị đâu vào đấy hết rồi. Giờ mà ông thông gia đổi ý là mệt đấy. Kia rồi, may quá, nó đã về. Lẩu ém mình vào bức rào đá cao một tầm với. Đang sửa sang quần áo để vào thì thấy nó quay lại. Mẹ kiếp, lại gì nữa đây. Nhiều đêm, Lẩu nằm mơ thấy mình túm cổ áo thằng Páo lên mà đấm cho thỏa thích vào cái mặt nó. Ở đây, Lẩu muốn đấm một vài thằng nữa. Nhưng chỉ là mơ thôi mà cũng còn khó khăn. Có thế chứ, thằng Páo vào nhà một lúc thì lại ra ngay như là để quên thứ gì rồi quay lại lấy. Chắc nó về hẳn. Lẩu rời chỗ nấp, đàng hoàng bước vào sân nhà Đái. Nhìn trước ngó sau một lúc, thấy mấy người họ hàng đang chụm lại với nhau bàn việc gì đó, nét mặt khá lo lắng thì Lẩu cất giọng văn vẻ:
– Thế nào, ông thông gia đã mắng vào mặt cái thằng phá đám ấy chưa?
Đái gật gù, ái ngại nhìn cái môi sưng vều của Lẩu, thì thào:
– Thằng Páo hả? Vừa mắng rồi. Phá ai chứ làm gì dám phá tôi. Chỉ ngại lão Chinh dạo này điên rồi hay sao ấy, hơi tí là giơ nắm đấm!
Lẩu gật gật cái đầu:
– Tao thấy ông Dìn cứ thì thụt ra vào nhà Chinh như có việc gì đó. Mày không biết rằng hồi trước ông Dìn và thằng Sử là bạn thân à?
Đái lắc đầu:
– Ùi, ông anh rể tao lành như đất, biết đếch gì, cái ngữ ấy, làm sao mà ông Chinh dễ dàng nghe theo!
Lẩu xua tay:
– Ấy chết. Đừng có chủ quan, mưa dầm thấm lâu, rồi đá cũng phải thối ra, mềm ra, nói gì đến con người. Mọi việc vẫn thế chứ hả?
Đái cũng văn vẻ lại:
– Thì cái mặt ông thông gia đang thế kia, sao cứ vội vàng. Độ này ông Chinh sinh ra mê tín, ông ấy bảo chục ngày nữa, vào ngày con gà mới là ngày tốt!
Lẩu thoáng rùng mình nhưng cố làm ra vẻ bình tĩnh và gật gù bảo:
– Ừ, ngày con gà cũng được. Cứ thế nhá, cũng chả phải vội!
Nói rồi Lẩu khệnh khạng ra về vì sợ đứng lâu hơn thì Đái lại đổi ý, lại nghĩ ra con gì tốt hơn con gà thì sao? Là do nó nao núng trước thằng Páo thôi. Chứ thằng Chinh, ngoài cái nắm đấm ra thì còn biết đếch gì khác mà đòi tính ngày tốt ngày xấu cho cháu. Lẩu cười thầm. Mày chết với tao có ngày thôi.
Cười thầm chả ăn thua. Đái tiếc. Sao vừa rồi mình không đấm vào mồm con rắn độc ấy vài quả cho đỡ tức nhỉ? Thảo nào cả Dìn và Chinh không ưa nó. Ngày xưa, nó đã cướp May trên tay mình, ngay trước ngày cưới. Rồi sao mình lại nhân nhượng, lại tử tế với nó thế chứ. Cũng chỉ vì mình nghĩ làm thông gia với người yêu cũ cũng tốt. Tại sao mình lại nghe lời Páo nhỉ, cứ như bị nó cho ăn bùa mê ấy? Liệu Páo nói có đúng không? Có lần, trong cơn say, thằng Lẩu huênh hoang rằng con Mỷ đang ở đâu, chỉ có hắn mới biết. Thằng này, thế mà đáng sợ ghê. Có lẽ phải nói chuyện này với Chinh thôi. Nhưng mà Chinh đang buồn vì mất vợ và bao nhiêu chuyện khác. Thôi cứ để đấy đã. Lúc nào đó, nếu thấy tiện, Đái sẽ kể. Vì Chinh nóng tính như lửa. Nghe chuyện, không chừng nó sẽ đến tận nhà, lôi thằng Lẩu ra mà đấm chết.