Lại nói chuyện những cái răng vàng của người Mông, người Dao Ngải Thầu. Cũng giống như nhiều vùng khác thuộc Mường Thàng, phụ nữ Mông đã có chồng ở Ngải Thầu ai cũng thích có được nụ cười lóng lánh với những chiếc răng vàng. Người bọc một chiếc, người bọc hai chiếc. Người giầu có thì bọc vàng thật, người bình dân thì bọc bằng “vàng giả” là loại hợp kim có màu vàng óng ánh. Nụ cười răng vàng khiến con người ta tự tin khi nói chuyện, cười đùa và nổi bật giữa đám đông. Răng vàng là biểu hiện của quyền lực, sự khấm khá và khả năng chịu chơi. Ngay cả những chị có cuộc sống vất vả, cơ cực và lam lũ đói khát thì cũng không nguôi ước mơ chiếc răng vàng để có thể ngẩng mặt lên bằng chúng bạn, bằng chị bằng em. Nắm bắt được thị hiếu này nên chục năm trở lại đây, trong phiên chợ Ngải Thầu, các nha sỹ là người bên kia biên giới tràn sang khai thác. Họ làm ăn phát đạt lắm. Nhanh và rẻ nhất là bọc răng vàng. Nhưng chỉ sau một năm là cái lớp vàng mạ giả kim ấy bị bào mòn, tróc lở. Nhiều chị em tiến tới nhổ luôn hai chiếc răng nanh và cắm răng vàng vào cho chắc. Già sắp xuống lỗ như mẹ Dìn cũng thích răng vàng, đứa gái mới lớn như con Su mười ba tuổi, con gái Đái cũng thích răng vàng.
Chẳng cứ đàn bà, con gái, ngay như đàn ông, những người có tí của, có tí chức sắc vai vế trong thôn cũng cắm răng vàng. Người nghèo xơ xác quanh năm thiếu đói cũng mơ răng vàng. Họ tin rằng, chiếc răng vàng khiến cuộc sống của họ khấm khá hơn, rủng rỉnh hơn. Có người sở hữu cả sáu chiếc vàng chóe, cứ mỗi khi cất tiếng cười là lóng la lóng lánh, tự hào lắm. Thào Chớ là người Mông ở Mùa Sán nổi tiếng về sự chịu ăn chịu chơi với ba chiếc răng bọc vàng thật. Nói về trình độ, Thào Chớ đánh vần một trang sách học sinh, chữ to bằng hạt ngô cũng phải mất buổi sáng, nhưng nói về sự sắm sanh thì không ai sánh được với Thào Chớ. Mùa Thị Máy, vợ Thào Chớ, có năm mươi tuổi rồi, dâu rể trai gái, cháu hàng đàn nhưng cách đây mấy năm, sau một chuyến “xuất ngoại” Máy trình làng hai chiếc răng vàng trị giá bằng nửa con trâu. Máy nói, mấy cái hiệu bọc răng ở chợ phiên vừa không bền, không đẹp. Thực tế, nhiều đứa cắm răng vàng chợ phiên, chưa qua một bữa ăn thì bánh ngô nếp dẻo đã lôi răng ra khỏi hàm. Có đứa, chồng khẽ tát một cái răng vàng đã bay ra khỏi mồm, rơi xuống ruộng, mò mãi không được. Máy sang bên kia, đi sâu vào thành phố, đứa em họ người Kiều A dẫn Máy đến một cửa tiệm lừng danh từng lên cả ti vi để làm răng. Các con gái của Máy, đứa nào cũng có răng vàng, không rõ vàng thật hay vàng giả nhưng nhìn đẹp lắm.
Mỷ mê mẩn hai chiếc răng vàng của Máy. Mang tiếng lấy chồng biết làm ăn và Chinh cũng không đến nỗi chặt chẽ như người ta mà Mỷ vẫn chưa được toại nguyện. Cái hôm Mỷ nói với Chinh về cái răng bằng vàng thật, Chinh đã cảnh báo:
– Mang vàng trong người, giờ vàng đắt, đến chỗ vắng thì nó giết chết có ngày!
Mỷ phụng phịu kể chuyện Máy có hai cái răng vàng thật, đi đến đâu cũng thoải mái cười đùa và được người ta vì nể, trọng vọng, mấy năm rồi có sao đâu. Mỷ còn nói ngoài bản Sín Chải B, người Dao đỏ đấy, thách Chinh tìm thấy đứa đàn bà có chồng nào đó mà chưa bọc răng vàng. Cả bản ai cũng có răng vàng. Đàn bà thì hai chiếc, đàn ông thì nhiều hơn. Người ta bọc răng, cắm răng vàng là để diện tết mà Chinh lại bảo đợi đến sau tết thì làm sao Mỷ đợi được.
Hay là Mỷ đến chợ rồi lén theo ai đi cắm răng?
Tất cả những chuyện ấy Chinh đã kể hết với Sử rồi mà giờ vẫn cứ bồn chồn không sao ngủ được. Nếu công an thực sự tài giỏi như người ta nói thì sớm muộn công an sẽ tìm ra Mỷ. Năm cũ sắp hết, còn vài giờ thôi, con gà sắp gáy chào năm mới rồi. Giờ này người ta rượu say, say lời chúc tụng, có ai thèm để tâm đến một đứa đàn bà mất tích nữa. Chinh bỗng nhiên dằn vặt mình. Sao cả tin thế, vội vàng đi kể cho Sử nghe. Rồi lỡ người không thấy, lại được cái tiếng xấu là kiệt xỉ, chặt chẽ với vợ, để vợ bỏ đi.
Không giống như Chinh nghĩ, Sử không hề chợp mắt, bỏ ra bếp ngồi chờ sáng. Ngoài trời lác đác mưa xuân. Thấy con trai thổi lửa phù phù, mẹ Sử cũng lọm khọm mò dậy, ngồi cạnh. Sử thở dài mấy cơn rồi đánh bạo hỏi.
– Nả à? Cái răng vàng của mo Dính là vàng thật hay vàng giả?
Bà mẹ Sử lấy tay dụi mắt, nhìn đứa con trai như muốn hỏi rằng sao bỗng dưng mày lại nói chuyện răng người đã chết. Thấy Sử vẫn chăm chắm nhìn như chờ đợi, bà mới gật đầu, nói nhỏ:
– Thật chứ, nhà nó làm cúng nên nhiều của mà!
Sử khẽ búng tay vào cây củi đang bén lửa rồi hỏi:
– Nả có biết cái tục bọc răng vàng của người Mông ta có từ bao giờ không?
Mẹ Sử ngồi im một lúc rồi nói:
– Từ lâu rồi, ta còn bé tí đã thấy những người lớn bọc răng vàng. Nhưng không ồ ạt đưa nhau đi bọc như bây giờ. Ngày xưa, chỉ người có của, có quyền thế mới bọc. Người Mông quan niệm là chiếc răng vàng sẽ giúp con người đuổi tà ma, ác quỷ và tránh bị thú dữ tấn công khi vào rừng. Vì thế những người bọc răng vàng đầu tiên xuất hiện thường là thầy cúng, thầy địa lý và thầy thuốc.
Sử không hỏi thêm gì nữa và ngầm suy xét vấn đề. Giờ nhiệm vụ của anh là theo dõi và gom nhặt thông tin để cung cấp cho cấp trên. Cuộc họp gần đây, chủ tịch xã Ngải Thầu nói thẳng với Sử. “Việc của cậu là giải quyết triệt để mấy cái vụ trộm cắp vặt ở Sín Chải đi, cả việc tranh giành nương ruộng nữa, còn giết người hay không giết người, hung thủ có phải là người Ngải Thầu hay không, không phải việc của cậu, cũng chưa đến lượt cậu”.
Trước kia, chủ tịch xã vốn xem Sử là cánh tay phải đắc lực, nhưng sau vụ bộ xương khô trên núi Plâu bị phát hiện, chủ tịch xã có vẻ không nhất trí với cách làm việc của Sử. Nhất là khi thấy trong một số trường hợp, Sử làm việc theo chỉ thị trực tiếp của lãnh đạo ngành mà không thông qua ý kiến của ủy ban. Trong lúc xã đang vướng vào bao nhiêu rắc rối và bị huyện nhắc nhở gay gắt thì Sử và hàng chục công an viên lại lũ lượt kéo nhau ra tỉnh để dự lớp tập huấn của sở. Mà theo như các vị ủy ban thì cái việc học hành tập huấn ấy giống như tù và rúc tai trâu, toi cơm cả thôi. Người ta học năm năm, bảy năm kia còn chưa ăn ai, huống chi mình đi có dăm bảy hôm, dài lắm là chục ngày. Ngày xưa, trưởng công an xã kiêm nhiệm bao nhiêu thứ việc từ khẩu giả, khai sinh, tạm vắng, tạm trú…mà đâu cũng vào đấy. Giờ giở rói ra bao nhiêu ban bệ, tưởng việc ít đi thì phải làm tốt hơn, vậy mà nhìn vào chỗ nào, cũng thấy rối như bòng bong. Nhiều lúc, chính bản thân Sử cũng thấy chán nản. Thế nhưng nếu Sử mà có biểu hiện gì đó tiêu cực thì ai sẽ là người an ủi động viên anh em? Có dạo, hàng loạt các công an viên tại các thôn bản xin nghỉ. Họ bảo họ chán cái việc đi tuần, giám sát người khác lắm rồi. Bổng lộc không được, chỉ được nghe chửi. Trước là vợ con mặt nặng mày nhẹ, sau đến làng xóm láng giềng, và sau nữa là chính quyền trách móc. Nào là lười biếng, nào là thiếu quyết đoán, nào là không nhanh nhạy, nào là a dua a tòng với dân…
Khốn khổ cho cái chức công an viên, nghe thì ghê gớm, nhưng với vài trăm ngàn tiền phụ cấp một tháng, thử hỏi đòi con người ta phải dốc sức, phải toàn tâm toàn ý với công việc có là quá đáng không? Ngay như việc đưa Páo lên vị trí phó trưởng công an xã, Sử cũng phải khô họng trình bày với ủy ban, cho dù, theo đúng luật, Sử có quyền bổ nhiệm, đề cử và sa thải đối với cấp phó và công an viên của mình. Cuối cùng, bí thư đảng ủy phán một câu. “Đồng chí hoàn toàn chịu trách nhiệm về trường hợp của đồng chí Páo”. Sử hiểu, ý của bí thư là Páo không phải đảng viên, trình độ học vấn thấp và hơn cả Páo là người Phìn Chư, một bản giáp biên giới vốn xưa nay gây ra nhiều trở ngại cho phong trào thi đua của xã.
Trước kia trưởng bản Thào Chớ vốn không ưa Páo, nhưng kể từ khi Páo có tí quyền hành trong tay thì Thào Chớ lại kết thân. Ở Mường Thàng, việc một công an viên hay một trưởng bản nào đó sa ngã, bị kẻ xấu mua chuộc, lợi dụng dẫn đến phạm pháp, tiếp tay cho kẻ xấu cũng là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, nếu cứ nhìn những người quanh mình bằng ánh mắt nghi ngờ thì thực tế là càng đẩy mọi chuyện vào bế tắc. Trước đây, Chinh cũng thế, có ưa gì Sử. Vậy mà giờ Chinh đã tìm đến Sử, đã tâm sự những điều riêng tư nhất. Chẳng phải là Chinh đã đặt niềm tin vào Sử rồi sao? Muốn người ta tin mình, trước hết mình phải tin người ta đã. Một thằng mới ra tù vì trộm cắp khi đi bán một con chó còn biết nấn ná, thương xót thì hắn có thể nào là người xấu? Hôm ấy, Sử đã theo chân Dìn. Trong suy nghĩ của Sử, Dìn là người sống tình cảm nhưng ủy mị yếu đuối và luôn bị tình cảm sai khiến. Ngược lại với Dìn, Chinh là kẻ lạnh lùng, bản lĩnh và quyết đoán. Ở Chinh, còn bao nhiêu bí mật được giữ kín? Để Chinh tự bộc lộ, phơi bày hành vi của mình là điều rất khó. Gần sáng thì Sử mới lên giường và thiếp đi. Trong giấc ngủ muộn màng, ngắn ngủi, Sử mơ thấy Mỷ tung tăng giữa chợ Ngải Thầu, cô hớn hở cười tươi khoe ra hai chiếc răng nanh vàng rất duyên dáng…
* * *
Sáng dậy, Máy ngồi bếp soi gương rất lâu. Thấy thế Thào Chớ bĩu môi, chê:
– Gớm, soi mãi, có đẹp hơn đâu!
Vợ Thào Chớ cất cái gương con vào thắt lưng, nói trống không: – Hôm qua nằm mơ thấy con Mỷ.
Ra thế, mơ thấy người đẹp thì phải kiểm tra lại ngay cái dung nhan mình. Thào Chớ nghe vợ nhắc đến tên Mỷ thì đá ghế ngồi xuống bên cạnh, ngó vào sát mặt vợ, hỏi:
– Mơ thế nào?
Máy phì ra một cái, lấy tay sờ sờ cái răng vàng:
– Chả thế nào cả, nó vẫn đẹp như trước!
Ra là thế, làm người ta giật cả mình. Đàn bà con gái Mùa Sán, đứa nào cũng ghen tỵ với Mỷ. Ghen vì Mỷ đẹp, lại ghen vì nó được chồng yêu chiều. Đến như Máy, vợ một trưởng bản, tiền của rủng rỉnh mà cũng còn ghen với nó. Đúng là đàn bà. Thấy thái độ của chồng rất lạ, Máy bèn hỏi:
– Tôi thấy mình với thằng Lẩu cứ thì thụt gì đó với nhau. Thằng Chinh mà biết là chết với nó đấy!
Thào Chớ ngẩng đầu lên, mắt mở to, giọng nhấm nhẳng:
– Chết thế nào mà chết. Đứa nào ngu đứa ấy mới chết. Ai bảo cứ thấy răng vàng là hoa hết mắt lên!
Máy nhướng mày lên:
– Nó mà lù lù về, mang theo mấy cái răng vàng thì khối đứa tức…
Kể từ ngày Mỷ mất tích, bà con Mùa Sán ra nương ra ruộng đều nói chuyện Mỷ. Có đến chục người thì thào vào tai Chinh là nằm mơ thấy Mỷ đi chợ Ngải Thầu. Có đứa còn cả gan bịa tạc rằng thấy Mỷ bọc răng vàng rất đẹp đi cùng với Máy, vợ trưởng bản thân mật như hai chị em gái. Chinh nói với Thào Chớ rằng. Tao là chồng nó mà lại không mơ gì thì tin thế đếch nào được mồm bọn hàng chợ.
May mà thằng Chinh không biết tin, không chịu tin, và chả có niềm tin vào thứ quái gì. Chứ không cũng mệt với nó. Thằng Lẩu có lần kể cho Thào Chớ nghe một giấc mơ trái khoáy, nó bảo nó mơ thấy ông Dính, bố nó, ngủ với May, vợ nó. Kể từ sau giấc mơ đó nó ghét ông Dính không chịu được. Chỉ muốn ông đi khuất mắt. Thế rồi khi ông bỏ đi, không thấy ông về, nó lại sợ hãi kể với Thào Chớ rằng nó toàn mơ thấy ông Dính đang ở một thế giới khác, một cuộc sống khác thôi.
Thào Chớ chống gối đứng dậy, mơ với chả mộng. Đúng là đàn bà, chỉ thích nói chuyện nhà người khác. Theo như mấy người anh em nói lại, chiều qua, Chinh đi Sín Chải gặp Sử. Không biết là có việc gì mà Thào Chớ thấy nóng ruột thế không biết. Từ trước đến giờ, ở cương vị trưởng bản, cái việc Thào Chớ làm tốt nhất là việc chia rẽ. Làm thằng phục vụ dân là phải biết đoàn kết dân lại. Nhưng muốn làm thằng cai trị dân là phải biết chia rẽ dân. Thứ nhất là chia rẽ Chinh với Dìn. Không cho Dìn có cơ hội vận động thằng em vợ nghe theo lời khuyên nhủ của mình, vì Dìn đã bị thằng Sử sỏ sẽo dắt đi như dắt con trâu ngoan. Thứ hai là chia rẽ Chinh với Páo bằng cách thường xuyên hạ bệ uy tín của Páo với trò kích động bà con kiện tụng Páo ra ngoài ủy ban. Thứ ba là chia rẽ Páo với Sử để cho hai con hổ này không thể cấu kết với nhau mà tạo nên sức mạnh. Và cốt lõi của mọi sự chia rẽ ấy chính là chia rẽ dân với chính quyền. Duy chỉ có một mối quan hệ mà Thào Chớ chịu chết, không thể can thiệp, ấy là quan hệ máu mủ giữa Chinh và Đái. Mỗi thằng một tính, một nết, một kiểu làm ăn, một hoàn cảnh, nhưng chúng thương và thân nhau như tay với chân, như da với thịt. Nếu có thể chia rẽ anh em chúng thì coi như Thào Chớ hoàn thành sứ mệnh với bề trên và Chinh là nhân vật được bề trên chọn lựa để trực tiếp thực hiện trọng trách.
Đúng là làm trưởng bản không sướng. Giờ này, bọn đàn ông Mông Ngải Thầu đã say ngất ngưởng rồi chui vào váy vợ ngủ hết cả rồi thì Thào Chớ vẫn ngồi đây mà tính toán. Vèo cái là hết ngày mồng một tết. Năm nay người Mùa Sán không mở hội Gầu tào, nên cũng chả có gì cập rập cả. Đến đâu thì đến. Chỉ tội mấy khách bên kia giục giã, sốt sắng quá. Thì cũng phải từ từ chứ. Vua chúa đâu chả biết, vào tù như chơi. Mọi việc đang thuận buồm xuôi gió thì thằng Lẩu giở chứng, tham tiền tham bạc, tối mắt tối mũi vào làm lỡ dở hết cả. Xem ra bọn thằng Sử đã đánh hơi thấy mùi gì bất thường ở Mùa Sán rồi. Đã bảo, dẹp cái cúng bái đi, nó còn không nghe, tham của thằng Đái mấy đồng bạc. Vợ Đái chết ra đấy, may là nó không bắt đền. Làm việc với thằng này tức anh ách. Mà bề trên đã chọn mặt gửi vàng cả rồi. Bề trên bảo, ở Mùa Sán, ngoài Thào Chớ ra, chỉ tin, chỉ dùng được thằng Chinh thôi. Trước, Thào Chớ có gợi ý việc để Mỷ đi cùng với Máy sang Kiều A để bọc răng nhưng Chinh không muốn. Nó nói nó không muốn vợ nó đẹp hơn nữa để làm gì. Cái thằng trái tính, trái nết là thế. Giờ nó đi gặp Sử, không biết nó có nói ra cái chuyện răng vàng không nhỉ? Dù rằng, trong chuyện này Thào Chớ không liên quan gì cả.
Trước đây, khi chưa có răng vàng, Thào Chớ thấy tiếng nói của mình xạc xào như tiếng gió ruộng ngô. Từ ngày có tí vàng trong miệng, Chớ nói gì, bà con nhất nhất nghe theo, như dao sắc chém vào cột. Ở đâu, chỗ nào có bà con kiện cáo là Chớ xuất hiện, ủng hộ. Đêm, Chớ đi với Páo vận động bà con không bán hàng tâm lý cho bọn Kiều A. Ngày, Chớ chỉ chỗ cho bọn Kiều A mua hàng. Mặc kệ, bắt cả hai tay thế mới chắc, sểnh cái ghế trưởng bản thì còn tiền. Mà sểnh tiền thì còn ghế. Cái tiền cho vợ con và bản thân Chớ ăn sung mặc sướng. Cái ghế cho Chớ chút oai, chút sỹ diện. Thào Chớ đến gặp thằng “nha sỹ” ở chợ phiên mà nói với nó rằng: “Bọc răng là kiếm nhất đấy, nhưng nếu chú mày mà không biết điều thì chẳng ai để chú mày tự do kiếm tiền thế đâu”.
Thế là thằng kia lại phải quà cáp, phiên thì thứ này, phiên thứ kia, dấm dúi biếu cho Thào Chớ. Được cái, mấy chú Kiều A thì khoản này nhanh ý lắm, chả bao giờ phải nói lần thứ hai. Nếu không, Thào Chớ chỉ nói một câu, bà con người Mông chả ai thèm lai vãng đến cái hiệu răng vàng của nó nữa cả. Chỉ có mà chạy về nước.
Đường lối chủ trương gì của Đảng, nhà nước khi về đến dân Mùa Sán đều phải qua Chớ nhào nặn. Cái miệng Chớ là cái ống, lời tròn, lời dài gì cũng đều từ đây mà ra. Chớ nói thế nào thì bà con biết thế. Nên kể từ khi thằng Páo lên làm phó trưởng công an xã là Chớ thấy bí chân, bí tay. Một rừng có hai hổ không bí sao được. Và cao kiến của Chớ là dùng thằng Chinh để loại thằng Páo nhưng thằng Chinh lại dửng dưng với việc này. Thằng chó ấy vẫn thế. Nó quen nghe ngọt, chứ không ưa mệnh lệnh. Vì thế Thào Chớ lại phải mất công sức để vẽ ra một phương an khác. Trong khi chờ đợi một kế hoạch hoàn hảo. Tạm thời Chớ cứ thân thiết với Páo đã. Ngay như cái vụ cắt tóc cho trẻ con Ngải Thầu trước tết ấy, làm quái gì có phụ cấp từ đồn biên phòng. Tiền là do Thào Chớ móc túi đưa cho Páo đấy chứ, nhưng phải nhân danh bộ đội, nhà nước thì nó mới nhận. Nó cũng khôn lắm chứ không vừa. Hôm chiếu phim tài liệu, Chớ cầm chắc là thất bại vì đã kịp thời cho chân tay đi tuyên truyền với bà con rồi. Rằng mấy cái phim vớ vẩn thôi mà, ai đi xem rồi mà không làm đúng như thế sẽ bị nhà nước phạt. Thế là bà con không ai đi xem cả. Vậy mà thằng Páo đi gặp thằng Sử để xin kế. Vụ ấy, kể như Thào Chớ thua. Xét ra, hai cái đầu chúng nó cộng lại, vẫn khôn hơn một cái đầu Chớ. Nhưng Chớ không thể bàn chuyện đại sự với Lẩu. Vì cái thằng Lẩu vốn nhiều lưỡi. Nó chỉ thích bạc, hứa gì, hẹn gì cũng phải có tiền dúi vào túi nó.
Một lần, Chớ ướm hỏi Lẩu:
– Mày có thích làm vua không?
Nó cười nhăn nhở:
– Vua là thằng nào?
Đấy, nó có tí suy nghĩ hay khái niệm gì về cái ngôi vị cao sang ấy đâu. Rồi vài ngày sau nó hỏi Chớ:
– Thế vua có nhiều bạc không?
Chớ nói để cho nó tiếc:
– Chú mày không muốn làm thì có người khác nhận làm rồi. Vua là người có nhiều bạc nhất, nhiều thuốc phiện nhất, nhiều đất nhất, nhiều người hầu hạ nhất và hai hàm răng làm bằng vàng tất!
Thằng Lẩu tinh quái:
– Tôi chả tin ở trên đời lại có người có nhiều thứ như thế!
– Có đấy!
Rồi Chinh kể chuyện vua Mông bên mường nọ, mường kia, mới bị bắt. Bắt vua này, lại mọc vua khác. Người Mông thiếu gì người tài giỏi. Rồi Lẩu lân la, tiếc của:
– Thế Ngải Thầu ta, đứa nào được chọn làm vua?
Thào Chớ không nói, chỉ cười nửa miệng, hé ra một phần ba cái răng vàng thôi, đủ để thằng Lẩu thao thức đoán già, đoán non cả đêm.
Mà đêm ấy thằng Lẩu mất ngủ thật. Kể ra như Lẩu đã là sướng nhất cái bản Mùa Sán này rồi. Muốn ăn gì cũng được, muốn uống rượu gì cũng được. Muốn ngủ lúc nào thì ngủ, muốn thức lúc nào thì thức. Nương không phải cày, ruộng không phải bừa. Vậy mà lại có thằng sướng hơn Lẩu. Thằng ấy là vua. Hẳn nào người Kinh vẫn có câu “sướng như vua”. Vua sướng thật. Vua trong phim Lẩu được xem vài lần bên Kiều A là người có nhiều vợ đẹp, nhiều ngọc ngà châu báu và có ngai vàng. Chỉ giả vờ ngô nghê thế thôi mà Thào Chớ tưởng thật. Cả cái vụ ông vua Mông bên Mường Nhé gì đó bị công an bắt, Lẩu cũng nghe nói. Thôi chả dại. Vua mà không có ngai vàng, không có gái đẹp nhiều thì làm thầy cúng còn sướng hơn. Nhưng sao bỗng dưng Thào Chớ lại hỏi mình thế? Cũng phải có lí do gì chứ? Loạn hết cả rồi. Vua đâu, chúa đâu chả biết, chỉ biết cuộc sống thế này là Lẩu bằng lòng rồi. Trong cõi âm mênh mang, mơ hồ ấy, Lẩu cũng làm vua mà. Thế là được rồi.
* * *
Con Su ngọ ngoạy trên giường không chịu ngủ. Phiên chợ trước, theo mấy đứa con gái cùng bản đi chợ phiên. Thấy người ta, đàn bà ở chợ ấy, túm năm tụm ba khoe răng, khoe cười. Mà đẹp thật. Su cũng thích có mấy cái răng vàng. Nghe bố nói chuẩn bị gả chồng cho. Đi lấy chồng mà chưa có răng vàng thì có bị khinh không nhỉ? Người Mông vùng này lấy vợ lấy chồng rất sớm. Thực ra Su không thích đi lấy chồng sớm thế. Ở nhà, cõng em đã mệt rồi, đi lấy chồng rồi lại phải cõng con, cõng em nhà chồng thì khổ lắm. Ăn không dám ăn nhiều, ngủ không dám ngủ nhiều mà làm thì lại phải làm nhiều. Hồi còn sống, mẹ Su kể cái ngày mười ba tuổi đi lấy chồng, dù được chồng thương mà vẫn khổ lắm. Toàn khóc. Mà phải khóc vụng, vì nếu mẹ chồng nhìn thấy con dâu khóc là không thích, là nói cho. Vì ai lớn rồi cũng phải lấy chồng, phải khổ, thì sao phải khóc. Mẹ mất, nhà bao nhiêu việc, sao bố cứ muốn Su đi lấy chồng sớm thế nhỉ? Có những chị lớn hơn Su vài tuổi giờ đã cõng con đi nương, đi chợ, đã thức khuya dậy sớm rồi. Su rất thích răng vàng, nhưng Su chưa muốn lấy chồng. Nhưng bố Su là thế. Đã quyết định việc gì thì cứ thế mà làm. Su còn nghe nói, ăn tết xong sẽ gả Su cho con trai nhà bác Lẩu. Su không thích ông ấy, cả con trai ông ấy Su cũng không thích. Có cách nào để từ chối việc này. Có ai giúp được Su không nhỉ?
Buổi sáng thức dậy, tự nhiên Su nhớ ra một người. Đó là bác Páo, người cùng thôn. Bác ấy có vẻ là người hiểu biết. Sao Su không thử nhờ bác ấy giúp nhỉ? Nhưng mà nói thế nào? Chẳng nhẽ lại chạy đến nhà người ta mà khóc lóc để người ta thương hay sao? Nhưng mà nói qua loa, sơ sài thì bác ấy có giúp không? Trước kia, Su và đám trẻ gái răm rắp nghe theo sự sắp đặt của bố mẹ mà đi lấy chồng. Kể từ hôm xã tổ chức chiếu phim cho bà con xem. Su chợt nhận ra rằng những đứa trẻ gái như Su đang bị người lớn lợi dụng. Con đẻ ra sẽ suy dinh dưỡng, thiếu máu. Mẹ sẽ dễ gặp nhiều sự cố không tổt cho sức khỏe và quan trọng hơn cả là sẽ mất đi tuổi thanh niên mà đời người ai cũng có quyền được hưởng. Hôm ấy, người Phìn Chư đi xem đông lắm. Nhiều người còn bảo sẽ không bao giờ vời đến thầy Lẩu nữa. Vì cúng không khỏi bệnh, và bệnh của người là cho vi rút, vi khuẩn gây ra, chứ không do con ma gây ra. Bệnh mà người vùng cao hay gặp nhất là bệnh gan, bệnh bướu cổ, bệnh giun sán, bệnh còi xương…Su vẫn còn được xem nhiều nữa. Sắp tới đây có điện, Su sẽ bảo bố bán bớt vài con dê mà mua cái ti vi về xem. Sắp có điện rồi. Ai cũng nói thế, chỉ có ông thầy cúng bảo là còn lâu mới có. Người chuyên đi nói ngược lại cái khao khát mong mỏi của bao nhiêu người, hẳn không phải là người tốt. Sao bố muốn gả mình vào nhà ấy chứ?
Bố Su khá tinh ý:
– Mày đi đâu vậy. Mồng một tết, đàn bà con gái đừng có tự tiện đến nhà người ta!
Su rụt đầu quay lại. Thôi cố đợi vài hôm nữa vậy vậy. Đằng nào thì hai bên cũng phải còn chuẩn bị. Nói thế thôi, làm sao mà cưới gả ngay được. Và lần đầu tiên con bé biết nói dối bố:
– Con định lên bác Chinh thôi mà!
Đái vằn mắt:
– Không đi đâu cả!
Đái cũng lo chứ, con gái bằng từng kia, lởn vởn ra đường, chúng nó lại không bắt đi ngay đấy. Tử tế thì bắt về làm vợ, tiền của cũng hao hụt. Và xấu hơn nữa là bắt bán, thế là mất con, lại trắng tay.
Con bé Su lại chui vào bếp, ngồi ngoan ngoãn bên chảo cám lợn đang oàm oạp sôi. Năm nào, vào những ngày này, mẹ nó cũng làm bao nhiêu là bánh và thức ăn ngon để ăn tết. Năm nay, chả có gì cả. Thịt có đúng ba món, một món luộc, một món hầm và một món quay vàng trên chảo. Mẹ chết, thì đến tương ớt cũng không có ai làm cho mà ăn, chứ nói gì đến bánh ngô, đến rượu móc, đến bánh khoải. Người Mông ở vùng này đẻ nhiều con lắm. Nhà Su có ba đứa là ít nhất rồi. Có nhà bảy con, tám con, tết đến, phải mổ con lợn cả tạ mới đủ ăn và tiếp khách. Cùng lắm thì Su cũng ở nhà ăn với bố và các em thêm hai cái tết nữa là cùng. Vì thế, cũng chả cãi bố làm gì nữa kẻo bố buồn.
Chinh nắm chặt trong tay hai chiếc rằng vàng. Mắt ngàu đỏ. Tim đập thình thịch và tóc gáy thì cứ dựng lên như đang run sợ. Mà Chinh sợ ngay cái suy nghĩ của Chinh vừa lóe lên trong cái buổi chiều ba mươi tết giá buốt thế này. Mất vợ, ngày rộng tháng dài còn đỡ, chứ ngày tết, Chinh không nguôi được cái suy nghĩ phải xả hận lên đầu kẻ đã gây ra tội lỗi. Nhưng Chinh mới chỉ lờ mờ đoán ra và lờ mờ xâu chuỗi sự việc thôi. Lấy gì đảm bảo rằng chính là hắn đã hại Mỷ?
Từ ngày mất vợ, Chinh không biết thế nào là cái cảm giác ngon ngọt nơi đầu lưỡi nữa cả. Rượu cũng đắng, thịt cũng đắng, cái gì cũng đắng chát. Các con thì tự ăn, tự mặc, tự tắm rửa cho nhau. Chúng như những con ngỗng non vô tư, làm sao biết được nỗi đau, nỗi nhục đang giày vò, hành hạ bố chúng. Có khi nào vìa hai chiếc răng vàng này mà Chinh bị quả báo, bị trừng phạt?
Từ trong nhà nhìn ra sân, gió xào xạc gió, hoa lả tả hoa. Con lợn nái nằm nghiêng tênh hênh cho đàn con rúc vú. Đàn con tranh nhau vú mẹ, vả nhau kêu eng éc. Con gà mẹ xòe cánh, u ấp đàn con, thi thoảng vẫn lòi ra những cái lưng vằn đen vằn vàng. Bọn gà con càng khỏe rúc. Mà đôi cánh gà mẹ thì chỉ có từng ấy rộng. Những cảnh ấy, càng làm Chinh nhớ Mỷ quay quắt. Hồi ấy, cũng trong lúc Chinh đau đớn thế này vì mất người vợ đầu tiên thì Mỷ vô tư chạy đến. Mỷ là em út của vợ Chinh. Lúc ấy Mỷ có mười lăm tuổi. Mỷ cầm tay Chinh mà khóc theo:
– Anh rể đừng khóc nữa. Chị Mai có sống lại được đâu!
Rồi Mỷ dùng tay áo lau nước mắt cho Chinh. Lòng Chinh cũng nguôi ngoai.
Rồi một năm sau, phiên chợ ấy, Chinh đã say lắm rồi với mấy người bạn Láo Tả, chợt nghe tiếng kêu gào:
– Anh rể ơi, cứu em với!
Chinh nhận ra đứa em vợ mình đang bị một đám người Mông đỏ rực khăn áo lôi đi. Cái nhà ấy Chinh biết, cũng là người tử tế thôi. Một người bạn Chinh bảo:
– Chắc thương nhau rồi, để nó bắt đi thôi!
Nhưng ánh mắt của Mỷ khi ấy nhìn Chinh lạ lắm, như van nài, như trách móc. Chinh bỏ mấy thằng bạn đứng tơ hơ đấy mà chạy ào đến lối rẽ về bản dưới, nơi đoàn người đang cố đem Mỷ chạy đi. Mỷ đã bị đặt lên lưng ngựa và thằng thanh niên kia thúc ngựa chạy như bay. Chinh vội vàng lấy ngựa đuổi theo. Con ngựa cõng hai người sao có thể chạy nhanh bằng con ngựa cõng một mình Chinh. Được hai chục phút thì Chinh đuổi kịp, Chinh vòng lên trước, đón đầu và ra lệnh:
– Đặt cô ấy xuống!
Chinh xuống ngựa, từ từ tiến lại, bàn tay giống như gọng kìm sắt của Chinh gỡ hết những ngón tay đang bám lấy vòng eo thon thả của Mỷ. Chinh nhấc Mỷ xuống và đặt lên ngựa của mình phóng về Mùa Sán. Để mặc thằng kia đứng ngây người tiếc rẻ, vì nó biết nó không phải là đối thủ của Chinh. Đêm ấy, dân bản Mùa Sán đốt đuốc kéo nhau đến xem Chinh bắt được vợ mới. Nhiều người vỡ lẽ khi nhận ra đó là em vợ của Chinh. Sau đó hai năm, lúc Mỷ sinh đứa con gái đầu lòng thì hai người làm đám cưới. Chín năm chồng vợ và ba mặt con với nhau, chưa bao giờ Chinh nói một câu nặng nhẹ với Mỷ. Bởi Mỷ hiền lành, chịu khó, xinh đẹp và mong manh như một đóa hoa nở trên núi đá, giữa bốn bề sương gió khắc nghiệt.
Chinh tự hào với bản trên, bản dưới vì có Mỷ. Hai đứa con của người vợ đầu tiên cũng hết sức yêu quý mẹ mới, và cũng là dì của mình. Vợ trước của Chinh bị đau ruột thừa, đưa ra được đến bệnh viện huyện thì cô ấy đã chết. Chinh đã mang xác vợ về trên lưng con ngựa ấy. Rồi cũng chính con ngựa ấy đã giúp Chinh cướp được Mỷ từ tay người khác để mang về. Chinh có thể nào làm người chồng bội bạc? Có thể nào nghe Thào Chớ mà lãng quên Mỷ. Một ngày, một giờ, một cuộc rượu, một giấc ngủ, Chinh chưa bao giờ quên Mỷ cả. Yêu đến trời tan đất vỡ mới thôi. Lời thề thốt năm nào Chinh vẫn còn nhớ. Ở phương trời nào đó, chắc Mỷ cũng chưa quên. Chinh có thể cho Mỷ tất cả cuộc sống của Chinh cơ mà, tiếc gì em mấy cái răng vàng? Nhưng Chinh không muốn Mỷ đẹp hơn nữa, quyến rũ hơn nữa. Chinh không muốn vợ mình giống bất kì người đàn bà nào trong thiên hạ với hai chiếc răng vàng. Thế thôi, đó là điều duy nhất Chinh không thể làm cho Mỷ. Và giờ thì Chinh đang ra sức dằn vặt mình về cái điều đó.
Chinh cẩn thận bọc hai cái răng vàng lại, cất vào chỗ cũ trong hốc cột nhà. Chinh bước xuống bếp. Cũng phải chuẩn bị gì đó cho bầy ngỗng non kia chứ. Bọn trẻ con thấy bố xuống bếp thì hí hửng vác ghế ngồi quanh, xem bố chế biến những món ăn gì cho ngày tết. Chinh nhìn đàn con, khẽ mỉm cười.
ÂM BINH VÀ LÁ NGÓN: CHƯƠNG 10