ÂM BINH VÀ LÁ NGÓN: CHƯƠNG 1

Năm nay xuân về sớm. Mới đầu tháng Chạp, mận, lê đã lác đác nở hoa. Cây mận già cổng nhà Chinh bị chạc ngựa buộc nhằng nhịt quanh gốc. Mấy con ngựa đưa khách ở xa về chồn vó hí vang. Bị lay, giật, những cánh hoa mận trắng vội vàng bung ra. Lả tả rơi xuống. Bọn trẻ con lít nhít từ ba đến tám tuổi tóc vàng như râu ngô, mũi thò lò quệt ngang bóng nhoáng hai gò má tấy đỏ, nứt nẻ, đứa đứng đứa ngồi, lổm nhổm. Phải gần chục đứa tất cả. Chúng chầu chực người lớn uống rượu.

Nào biết Chinh mời khách từ bao giờ mà nay bỗng dưng đến đủ, đến đông thế. Tiếng cười nói và những cái mặt đàn ông đỏ phừng phừng vì men rượu. Vợ Chinh mất tích cả tháng rồi. Còn vui gì mà rượu? Ấy thế, bình rượu thóc lẫn bình rượu móc đều đã vơi cả.

– Chúc cái nương thuốc lá nhà mày tốt nhất bản!

– Chúc mày tìm thấy nhiều bà con họ xa!

Chinh đã chếnh choáng. Một ông khách lấy tay bốc cái đầu gà trống ngất ngưởng mào, để vào bát Chinh, khề khà.

– Thì xưa nay họ Thào với họ Lý vẫn là anh em mà. Cũng dòng dõi Miêu tộc cả thôi.

Thào Sán Sẻn và Lý Chinh nhận họ, uống với nhau một bát rượu thóc đầy ặc. Giàng A Cay và Mã Thi Lục cũng đứng dậy nhận họ. Tiệc rượu xem chừng mỗi lúc lại thêm rôm rả. Lý Đái, em trai ruột của Lý Chinh đứng dậy cầm tay một người đàn ông ăn mặc gọn gàng ngồi phía ngoài cùng lên tiếng:

– Giới thiệu với anh em, đây là Tráng A Páo, người Phìn Chư ta, mới lên chức phó trưởng công an xã Ngải Thầu đấy.

Công của cán bộ to lắm, sẽ kể sau. Giới thiệu với cán bộ Páo, anh Mã Thi Lục và Thào Sán Sẻn đây là người Kiều A, người H’Mông cả thôi. Còn thằng kia là em rể mình, chồng con Mo, cũng người Kiều A. Còn lại là các anh em dưới Sín Chải và Láo Tả lên chơi.

Sau câu giới thiệu, tất cả đứng dậy, cùng nâng bát. Khách Kiều A có vẻ ăn nói giữ ý tứ hơn, vẻ thiếu tự nhiên hiện lên trên từng khuôn mặt. Páo thấy vậy, lấy lý do có việc cần gặp trưởng bản Mùa Sán nên sau khi uống cạn bát rượu thì đứng dậy chào về.

Cán bộ về rồi, Thào Sán Sẻn là gã đầu trọc tuổi ngoài bốn mươi mới lè nhè:

– Công của cán bộ to lắm à? Sao không nhờ cán bộ làm cho dân cái đường to hơn đường con ngựa đi, để xe máy chạy được. Sao không làm cho dân cái điện sáng, cũng không xây cái lớp học cho trẻ con?

Một gã vặc lại:

– Ngải Thầu còn nhiều bản chưa có đường, chưa có điện và trường học chứ đâu riêng Mùa Sán ta? Chẳng qua Mùa Sán ở cao quá thôi. Dần dần sẽ làm, sẽ hết nghèo mà, điện sắp về rồi.

– Nghèo thế, khổ thế sao không tìm đất tốt hơn mà sống, quanh năm suốt tháng chỉ ăn măng chua thì mới mù chữ, mới ốm đau bệnh tật chứ?

– Có, bỏ đi mấy lần rồi, cán bộ động viên thì lại về. Cán bộ chịu được thì dân cũng chịu được thôi. Mày nói thế đếch được, người Mông cả vùng núi đá Ngải Thầu này ăn mèn mén, măng chua chứ không riêng Mùa Sán.

– Cán bộ xui chúng mày ở lại để giữ đất chứ gì? Cái đất dùi chọc không thủng này, cho cũng chả ai lấy đâu.

Lý Đái thấy không khí chủ khách căng thẳng nên dẹp đi ngay bằng những bát rượu thóc đốt cháy cổ. Rượu vào, lại anh em ngay thôi mà. Thằng Sẻn nói thế cũng không được. Nó là khách. Khách chỉ nên nói chuyện vui thôi. Người Mùa Sán lúc nào cũng thèm khách đến chơi nhà. Người cùng xã dưới Sín Chải hay bên Na Cồ rất ít khi lên vì đường đi khó quá. Năm thì mười họa mới có vài người đi tìm thuốc dừng chân ở Mùa Sán quãng độ một ngày rồi cũng đi mất. Cán bộ dưới huyện đã lên tìm đất để mở trường, nhưng vẫn chưa thấy quay lại hay hứa hẹn gì. Vì thế mỗi khi có khách từ bên kia biên giới sang, người Mùa Sán vui lắm.

Bên ấy là Kiều A. Mùa Sán và Kiều A xửa xưa vốn là một bản. Cái quan hệ máu mủ của người H’Mông vắt từ Mùa Sán sang Kiều A đã có từ bao đời. Nó gần gựa như gốc với rễ, như cành với lá, như hoa với quả ấy. Nhưng đôi khi lại không thuộc sự kiểm soát của tình cảm. Dân được nghe cán bộ chính quyền phổ biến thế này.

– Những người con, dù trong một đại gia đình, nhưng khi trở về đúng vị thế, họ là công dân của hai quốc gia, hai vùng lãnh thổ, hai nền văn hóa, và có thời kì còn là hai chiến tuyến, thì phải nghiêm chỉnh tuân thủ những quy định….

Một số ít người như Lý Chinh biết tiếng phổ thông thì ngồi yên nghe và ngẫm nghĩ, chứ phần lớn thì lắc đầu chả hiểu gì cả. Bảo cột mốc biên giới thì họ biết là cột mốc. Cột mốc nằm trong nương ngô nhà họ chứ có xa lạ gì. Cột mốc biên giới thì có liên quan gì đến chuyện họ hàng máu mủ? Chưa kể là bên Kiều A có rất nhiều thứ mà Mùa Sán không có. Cỏ bên Kiều A tốt, bà con bảo họ mang dê, ngựa sang mà chăn. Kiều A có điện sáng, bà con bảo sang mà xem ti vi. Để đáp lại lòng tốt của bà con Kiều A, Thào Chớ cũng cắt cho đứa em gái lấy chồng bên Kiều A mảnh nương khá rộng, ngay gần cột mốc, để nó trồng tam thất. Nhưng đến khi nó sang trồng cấy thì cán bộ biên phòng và trưởng công an xã lại bảo không được, như thế là vi phạm công ước về chủ quyền biên giới. Thế thì đòi lại thôi. Đòi lại mà nó không giận. Nó còn dạy dân Mùa Sán cách đối đáp mỗi khi cán bộ hỏi đến.

Có lần Lý Đái sang Kiều A thăm em gái đẻ. Cán bộ biên phòng hỏi.

– Trong ống nứa kia đựng cái gì?

– Mỡ lợn thôi.

Mỡ lợn là thứ người Mông rất thích và không thể thiếu trong bếp nhà họ. Lại là thứ ăn vào mồm, kiểm tra đâu có dễ, đâu dám tùy tiện cho gì đó vào đó mà khuấy, mà ngoắng lên. Mỡ lợn đem qua biên giới. Thậm chí cả gia súc, gia cầm đem qua biên giới. Hỏi đến thì chính con trai của Thào Chớ, trưởng bản Mùa Sán dõng dạc trả lời như được học thuộc.

– Mùa Sán mùa này cỏ chết, tao đem dê, đem ngựa sang Kiều A chăn mà cán bộ cấm sao? Hay cán bộ muốn nó chết đói hết! Hoặc:

– Mùa Sán không có điện, tao sang em gái tao xem phim không được sao?
Rồi thì:

– Đất Kiều A tốt, tao trồng nhờ em rể một nương thuốc lào, nay xong thì cắt về, có gì đâu.
Đấy là người biết nói tiếng phổ thông. Còn người không biết thì đi đi, về về bất cứ giờ nào và đem qua biên giới đủ thứ trên đời. Cán bộ có hỏi gì, nói gì thì cũng như chẳng nghe thấy. Nhưng dù sao, đối phó với cán bộ biên phòng còn đỡ, chứ với cán bộ công an thì…khó khăn lắm. Vì nếu cần, ngay cả mỡ lợn, hay bất cứ thứ gì ăn vào mồm, họ cũng khoắng lên để kiểm tra…Đấy là nghe người Kiều A nói thế chứ người Mùa Sán sang Kiều A thăm hỏi bà con chưa bị khó dễ bao giờ. Kể từ khi Tráng A Páo vốn là công an viên được chính quyền cất nhắc lên là Phó trưởng công an xã Ngải Thầu, người Mùa Sán thấy yên lòng hẳn. Kể từ giờ, tiếng nói của bà con sẽ đến được với chính quyền nhanh và đầy đủ hơn trước.

Mấy năm nay con gái Mùa Sán được gả về Kiều A nhiều lắm. Vì trai Mông ở Mường Thàng nghèo, có người cưới mười năm chưa trả hết nợ vay làm đám cưới, có người đẻ ba con vẫn chưa hết hạn ở rể. Trong khi gả con gái cho người Kiều A, cha mẹ cô gái thu về một món rất gọn, cũng bõ công nuôi dưỡng, dạy dỗ. Với lại người Mông của Kiều A và Mùa Sán vốn có truyền thống gả con cho nhau từ lâu lắm rồi. Thế là mỗi ngày một thêm nhằng nhịt, y như cái gốc mận buộc đầy thừng ngựa kia. Từ việc gả con dẫn đến việc đi thăm cháu, việc cúng đặt tên cháu và bao nhiêu loại lễ lạt khác mà phải cần đến nhau. Thế nên họ Thào với họ Lý là anh em. Họ Mã và họ Giàng cũng là anh em. Không có họ nhưng yêu nhau, quý nhau cũng là anh em. Uống với nhau một bát rượu ở phiên chợ biên giới trong cái hun hút gió và ngùn ngụt sương là thành anh em. Thậm chí đã từng thù hằn nhau rồi cũng có thể bắt tay làm anh em lại từ đầu như cái cách nói của Mã Thi Lục. Rằng Hán Tộc xưa thù ghét và dồn đuổi Miêu Tộc là việc làm sai trái. Để người Miêu phải chạy sang Việt Nam và các quốc gia khác bây giờ người Hán ân hận lắm, sẽ sửa sai bằng cách giúp đỡ người Mông được sướng hơn. Hồi chiến tranh biên giới, đạn pháo không có mắt nên mới trúng vào người Mông làm người Mông thiệt mạng, chứ anh em với nhau, ai lại muốn thế. Những tinh túy trong văn hóa, ẩm thực, trong cách chế tạo các loại nhạc cụ, công cụ, trong kĩ thuật trồng lúa nước, theo cách nói của người Kiều A là do người Mông được thừa kế từ Miêu Tộc. Cái bản chất giỏi giang, bền bỉ và mưu trí của người Mông cũng là do được thừa hưởng từ Miêu Tộc. Còn đói, nghèo, lạc hậu, dốt nát thì do đâu? Người Kiều A bảo, đó là do chính quyền Mường Thàng không biết cách chăn dân thôi…

Bữa rượu nào, khách Kiều A cũng khéo léo nhắc đến cái nghèo đói của Mùa Sán, cứ như bỏ muối vào vết thương chưa liền. Vì họ biết, từ lâu rồi, họ Lý ở Mùa Sán vẫn bị chính quyền quản thúc, theo dõi. Ông nội của Lý Chinh vốn là tên phỉ gian ác khét tiếng, tay chân thân cận của Châu Quáng Lồ đã chết trong cuộc vận động kêu phỉ ra hàng năm năm ba. Hắn nhảy xuống sông Nậm Miên tự vẫn vì nghe tin sẽ bị chính quyền cách mạng xử bắn. Những năm chiến tranh biên giới, bố Lý Chinh là Lý Láo Lủ cùng gia đình dạt về tận vùng Bảo Lâu đến tận năm tám bảy, biên giới tạm yên mới trở về đất cũ. Chị gái của Lý Chinh đã đi làm dâu tận dưới Sín Chải, nhưng lại có chồng đi tù vì tội trộm cắp. Cuộc sống của người Mùa Sán bị tách biệt ngay cả với các thôn bản khác trong xã cũng chỉ bởi cái đường đi cheo leo, chênh vênh trên miệng vực. Trong khi một số thôn bản ở Ngải Thầu đã lác đác có điện, dù là điện tậm tịt khi sáng khi tối thì Mùa Sán vẫn chưa có gì.
* * *
Khách say quá, ngồi vạ vật khắp nhà khắp bếp. Cái điếu cày bằng nứa bỏng rẫy vì cứ truyền từ mồm chủ đến mồm khách, từ người này sang người kia. Rượu khiến người ta vung vít, phí phạm lời nói bao nhiêu thì thuốc lào khiến người ta tiết kiệm bấy nhiêu. Ai nấy ngửa cổ nhìn khói thuốc trôi lên trời phiêu diêu sung sướng.

– Người Kiều A khi say sưa là hay văng tục lắm.

Thào Sán Sẻn nghe Mã Thi Lục chuyển đề tài thì phá lên cười: – Người Mông ta là dại nhất đấy, càng say càng văn hoa, càng nói dài, trong khi thằng đếch nào cũng biết rằng nói tục là sướng cái mồm nhất.

Chinh dù say thật nhưng thấy tình hình mỗi lúc một cấp bách. Cứ cái đà này, chỉ lát nữa là cả đám đàn ông không giữ nổi mình, bung ra văng tục văng bậy là toi. Một khi đã nói tục là hay cãi nhau, rồi đánh nhau cũng nên. Mà Chinh thì không thích cãi nhau ở đây, trong tình cảnh này.

Chờ đến khi Mã Thi Lục gục hẳn xuống sàn nhà như con gấu bị đạn vào đầu, Chinh mới hất hàm cho đám trẻ con dọn dẹp mâm bát xuống bếp. Hôm nay Chinh giết một con dê đãi khách. Hẳn một con dê đực đấy. Thằng Đái làm thế nào mà không thấy thịt nhiều, tàn tiệc chỉ thấy đống xương lù lù. Mép thằng nào thằng nấy, cả râu ria nữa, cứ bóng nhẫy lên, sao gọi là dê gầy được. Hôm nay Chinh mời Páo đến đây cốt để nó nhìn rõ mặt khách nhà Chinh mà kiềng ra nhưng nó ý tứ bỏ về. Khách nhà Chinh, cả cái bản Mùa Sán này ai cũng biết, Chinh không thừa rượu, thừa thịt đãi cái loại khách vu vơ không có lợi lộc gì. Nhất là mấy thằng dưới Láo Tả ấy, không tự nhiên mà Chinh mời chúng. Và chúng đặt chân lên vùng biên vắng vẻ này làm gì nếu như không được lợi lộc từ Chinh? Chỉ ghét cái, việc làm ăn là làm ăn, đừng có vơ váo chuyện chính quyền vào làm gì cho rách việc. Mùa Sán có nghèo, có tăm tối thì chúng mày mới rộng chân mà hoạt động chứ. Nếu cứ ra thấy người, vào chạm người, thử hỏi chúng mày ngọ ngoạy được mấy phen?

Thực ra Kiều A cũng là vùng nông thôn ở bên kia nhưng chỉ vì chúng có đường xá đi lại thuận tiện nên công việc làm ăn cũng tốt hơn. Với người nghèo Mùa Sán chưa một lần ra đến thành phố thì Kiều A giống như thiên đường rồi. Thằng Páo vừa ngo ngoe lên làm phó trưởng công an xã đã phát tín hiệu chế ngự, dằn mặt Chinh và một số đối tượng ở Mùa Sán.

Cán bộ biên phòng ngọt ngào, thân thiện bao nhiêu thì cán bộ công an lạnh nhạt, hờ hững với dân bấy nhiêu. Ở vùng biên này, nói thật, ngoài mấy đứa đàn bà góa, mấy ông già neo đơn ra, còn lại, chả ai ưa Páo và cái đội ngũ công an Ngải Thầu cả. Páo cũng chỉ là thằng nông dân chân đất đầu trần đi lên chứ có phải thánh thần gì ghê gớm. Khuôn mặt nó lúc nào cũng nghiêm trọng như thể sắp có cuộc nổi dậy cướp chính quyền ở Mùa Sán này không bằng. Hay là nó sợ? Làm công an mà sợ thì làm làm đếch gì? Lần trước, tay phó trưởng công an xã người Dao bị sa thải chỉ vì cái tội uống rượu say rồi trêu ghẹo con gái người ta. Suốt cả năm, đàn bà con gái Ngải Thầu ra đường, thấy công an là chạy như ma đuổi. Thằng Sử sa thải ngay cấp phó của mình, dù cho tay này là em vợ của chủ tịch xã chứ không ít. Thằng Sử, trông thế thôi, khi cần phải cứng rắn, mạnh tay, nó cũng gớm lắm. Thằng Páo mà không được việc, sớm muộn nó cũng đuổi ra khỏi hàng ngũ. Thăng Sử đưa thằng Páo lên là để dàn xếp mọi việc ở Mùa Sán và làm yên lòng người Mông thôi. Nó khôn lắm. Chinh chẳng lạ. Cũng phải nói thật rằng những mỗi quan hệ Chinh dày công tạo ra là có mục đích cả. Đứa em rể Chinh, thằng ấy mà ở Mùa Sán này thì đời đời kiếp kiếp không lấy được vợ. Đã chột một mắt lại còn cái thói nhỏ nhen, tắt mắt. Nhưng vì nó giầu mà bố Chinh vẫn gả con Mo cho nó. Cứ mở mồm ra là nó nói chuyện làm giầu bất chính. Mẹ kiếp, người ta làm mười nói một. Đằng này nó làm một nói mười. Công an bên Kiều A thế nào không biết, chứ bên này thính lắm. Gặp nhau mà dấm dúi nó càng để ý. Vì thế lần nào triển khai việc làm ăn Chinh cũng mở tiệc rượu tưng bừng và cho mời Páo đến. Lần này, Chinh mời Páo đến, cũng để Páo biết rằng vợ Chinh mất tích một tháng. Chính quyền đã có hành động gì chưa, cái gọi là bảo vệ bình yên bản làng, chính quyền đã làm được chưa? Chinh muốn Páo nghĩ rằng, Chinh buồn thì uống rượu và gọi bạn đến cho khuây khỏa đấy. Tính ra, lừa thằng Páo còn dễ hơn lừa thằng Lẩu.

Khách Kiều A về trước. Khách Láo Tả và Sín Chải về sau. Bắt tay bắt chân thân tình lắm, lứu cả lưỡi vì hò hẹn lần sau. Khi tất cả về rồi Chinh mới kiểm tra lại cái sự trao đổi. Vẫn như thế. Là những quả pin tầu dùng cho đèn. Cái vùng đất tăm tối này, nếu không có cái đèn pin, đêm hôm không biết đằng nào mà lần. Đôi lúc Chinh lại nghĩ, nếu Mỷ chưa bị mất tích, mọi sự làm ăn đâu có thuận thế. Thôi thì đen thứ này lại đỏ thứ kia.

– Nhìn gì?

Chinh quát thằng bé lên năm đang thập thò nhìn bố buông màn ngồi trong giường làm cái việc rất lạ, ấy là bóc từng quả pin còn mới tinh ra, cứ như trẻ con nghịch pin cũ ấy. Thằng bé con bị quát thì chạy ra ngoài, leo lên lòng chị gái mà ngồi. Cái đám khách này, trước là của Thào Chớ, sau là chuyển sang cho Chinh. Thào Chớ bảo, tao là trưởng bản, cứ đi lại nhiều cũng không tốt, tiếp khách ở nhà cũng không tốt. Làm việc gì nó cũng kêu là không tốt nhưng lại đòi hưởng lợi. Thằng chó. Nếu nó không là trưởng bản, Chinh cạch mặt nó, tìm khách khác cho thoải mái.
Khách đã về hết mà ngoài cây mận còn sót lại một con ngựa tía đang chồn vó hí lên. Phải công nhận rằng ngựa bên Kiều A rất đẹp, nhìn không biết mỏi mắt. Đái khặc khừ đi lên sàn, bảo Chinh:

– Em mua con ngựa này của thằng Sẻn đấy.

Chinh trợn mắt:

– Mày buôn bán gì mà mua ngựa?

Thằng Đái cười bằng cái mũi khịt khịt như mũi con ngựa gầy chê bãi cỏ hôi.

– Em đi mua hàng cho thằng Sẻn, một ăn hai đấy, tội gì. Không có ngựa đi lại khổ lắm. Cây kim tuyến dạo này đắt lắm.
Chinh không nói gì nữa. Cũng phải để cho nó kiếm gạo nuôi con nuôi vợ chứ. Hàng mà bọn thằng Sẻn bày ra Chinh nào có lạ gì, chả riêng kim tuyến, kim cương đâu. Hải quan cấm đấy, nhưng chúng nó vẫn lén lút buôn bán với nhau. Thiết nghĩ, hại thì có hại nhưng với cái lợi trước mắt là đồng tiền, chả dại gì mà bỏ qua cả. Thằng Đái thấy Chinh không có ý kiến gì thì nói thêm:

– Họ cho chịu một nửa mà, trả dần, tội gì không mua.

Chinh thoáng thấy lạnh dưới gáy và hai bên cánh tay. Khách Kiều A bán chịu ngựa cho thằng Đái ấy à? Sao bỗng dưng chúng lại tốt thế. Bàn cờ đã bày ra, một người đấu với chúng là đủ, sao bỗng dưng lại kéo thằng Đái vào? Nhưng thôi, ngày tháng còn nhiều ở đằng sau, cứ kệ chúng nó tính toán với nhau.

Từ xưa tới giờ, người Ngải Thầu sống dựa vào hàng của người buôn Kiều A. Vải vóc, quần áo, thuốc men, dày dép, đèn pin, phích nước, chăn, đệm, rau củ quả, hạt giống…Cũng bởi cái xứ sở hẻo lánh này, hàng của nhà nước bao giờ mới lên tới nơi. Từ cái ăn, cái mặc, cái dùng đến cái nghe, cái xem đều là của xứ họ. Người Mông vùng này chỉ có mỗi cái tiếng nói riêng để nói, để hát, cái phong tục, tập quán riêng để dùng thôi. Hàng của người Kiều A vừa rẻ, vừa đẹp, dù nhiều thứ nhanh hỏng. Nhưng đồng bào ở đây lấy cái đẹp, cái rẻ làm tiêu chí mua sắm. Đắt quá, tiền đâu mà mua? Vào ngày mùa, thanh niên trai tráng, phụ nữ bên này lại đổ xô sang bên ấy để gặt thuê, làm nương thuê, hái quả, phát cỏ, cắt sơn thuê lấy tiền trang trải cuộc sống. Người ta nhiều đất hơn mình. Đất người ta tốt hơn đất mình. Hàng hóa, lương thực, thực phẩm của người ta rẻ hơn mình, bảo sao dân người ta không sung sướng béo tốt. Thì đấy, riêng thằng Sẻn và thằng Lục ngồi hết nửa chỗ ngồi trong bữa tiệc. Cái cằm, cái cổ chúng nó sa xuống, núng nính, cái bụng thì tròn xoe, áo không che được rốn. Cái rốn cũng có mỡ, phồng ra, lồi lên. Trong khi thằng Đái và mấy đứa Láo Tả gọi là có chút của ăn của để mà mặt mũi hom hem, người toàn xương, sờ không thấy thịt, chưa đứa nào qua được sáu chục cân. Thế mà thằng Sẻn cứ nhìn thằng Đái mà ao ước.

– Tao muốn nhẹ nhàng, nhỏ gọn như chú mày đây. Béo quá đi lại nặng nề lắm.

Ối dà, ăn như chúng nó thì gầy làm sao được. Chúng ăn cả tô canh đậu một lúc, cả cân phở chua một bữa, chưa kể thịt với rau, với rượu. Mỗi khi mời khách Kiều A, Chinh phải chuẩn bị rất nhiều thức ăn, rất nhiều rượu. Nhưng mà bọn này cũng biết điều, lần nào đến cũng vỗ vai bọn trẻ con nhà Chinh rồi cho tiền. Trẻ con ở Mùa Sán không biết tiêu tiền. Vì có chỗ nào mà tiêu. Chủ yếu là người lớn tiêu thôi. Nên chả dại gì mà không tiếp khách. Vừa được vui, được say, được bạn, lại được tiền.

Thằng Đái cởi trạc dắt con ngựa tía về, khuôn mặt nó ngời ngời sung sướng như đi đêm nhặt được bạc. Con ngựa ấy, từng đứng dưới gốc mận nhà Chinh nhiều lần, cũng quen hơi người Mùa Sán nên ngoan ngoãn theo chân Đái đi về nhà mới, chuồng mới, chủ mới. Chẳng có gì lại dễ thế đâu. Rồi mày lại quay cuồng, tối tăm mặt mũi với những thứ hàng quái đản mà bọn thằng Sẻn vẽ ra để đòi mua từ Mường Thàng thôi. Nhưng mà ba tháng trông hạt ngô, bốn tháng trông hạt lúa và cả năm trông vào đàn gà, cuộc sống cơ cực lắm. Chinh nhìn theo cái dáng cần mẫn, tận tụy của thằng em trai mà thương. Nó mới là kiếp con ngựa, con ngựa vùng cao, vừa mang vác nặng nề, vừa cày bừa nhọc nhằn.

Như thường lệ, bọn trẻ con từng đứa xòe tay đưa tiền cho bố. Tiền khách cho đấy. Đồng tiền một trăm đỏ hồng to bản, đồng năm mươi xanh xanh và mới cóng. Chinh cho tiền vào túi áo, và vẫn cái câu hứa cũ rích ấy. Để chợ bố mua quà cho. Dạo này, dễ đến cả tháng Chinh chưa nhìn thấy đồng tiền Việt. Có gì bán đâu mà thấy tiền. Nói là không có gì bán không đúng. Có mà chưa dám bán vì tình hình đang căng thẳng. Mỷ lại vừa mất tích. Giờ mà ngọ ngoạy bán mua là chết ngay. Bọn thằng Sẻn biết vậy nên cũng không giục vì nó biết tính Chinh, có giục cũng không được. Làm cái việc này, được ngày nào, biết ngày ấy. Thế thôi mà.