Những bài thơ này bước ra từ miền lặng của ký ức, nơi lịch sử không còn là biên niên mà là hơi thở. Ở đó, Hòn Vọng Phu thôi hóa đá để trở lại làm người đàn bà, sông Hồng thôi chảy qua bản đồ để chảy trong huyết mạch. Thơ không kể, không giảng, chỉ mở những cánh cửa mỏng để ánh sáng đi vào. Mỗi câu thơ là một vệt gió, chạm rất khẽ nhưng đủ lay động những tầng sâu nhất của trí nhớ và lòng trắc ẩn. Đó là thứ thơ khiến người đọc đứng lại, lắng nghe, và nhận ra mình đang ở trong một mùa xuân lâu đời của dân tộc.
Nguyễn Hữu Quý là người viết mang theo chiều sâu của đời lính và sự tĩnh lặng của suy tưởng. Thơ anh không tìm kiếm ồn ào, mà kiên nhẫn dựng nên những không gian tinh thần rộng mở, nơi con người đối diện với lịch sử, với yêu thương và mất mát bằng giọng nói chậm, bền và nhân hậu.
Đại tá – nhà thơ Nguyễn Hữu Quý sinh năm 1956, quê ở tỉnh Quảng Bình, hiện sống và làm việc tại Quảng Trị. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Anh đã xuất bản 6 tập thơ, 3 trường ca; 3 lần đoạt giải thưởng Bộ Quốc phòng và các giải thưởng thơ, văn xuôi của báo Văn nghệ, tạp chí Văn nghệ quân đội, Hội Nhà văn Việt Nam…
VIẾT LẠI HÒN VỌNG PHU
(Gửi một thời không quên)
Mũ tai bèo ngẩng trông
hòn vọng phu không còn là đá nữa
Nàng trở lại đàn bà muôn thuở
để mỗi chàng trai như thấy có mình
Họ sẽ đi giữa tàn khốc chiến chinh
ngày trở lại, biết nói làm sao nhỉ
họ sẽ đi và dấu chân chiến sĩ
cứ tắt dần trong thăm thẳm nắng mưa
Nàng bước ra từ câu chuyện ngày xưa
để viết lại một ngày xưa không cổ tích
thời gian chẳng tính bằng niên lịch
chỉ bằng yêu thương từng trang mở mỗi ngày
Bao nhiêu dáng hình thấp thoáng trong mây
bao nhiêu khát khao là bấy nhiêu dang dở
Nàng trở về trong điệp trùng bồi lở
mang theo những giấc mơ lính trận gửi vào
Và, tôi nghe tiếng trẻ ở trên cao
chấp chới cánh diều bay bổng
những ngọn gió vô hình đồng vọng
trong muôn hình dáng đá hồi sinh
SÔNG HỒNG
Chảy vào đất Việt mới thành sông Hồng
cái màu nước mang mang hồn châu thổ
dấu Giao Chỉ in phù sa muôn thuở
mấy nghìn năm một cương vực thiêng liêng
Ta nghĩ, hoa đào cũng thắm sắc xuân riêng
cánh buồm giêng hai rẽ mây về phía trước
bao lớp mồ hôi đầm đìa dựng nước
bao lứa thanh xuân nối tiếp giữ non sông
Ai chẳng mang trong mình một sông Hồng
ráng mây chiều cũng dáng hình ngựa chiến
dằng dặc đợi chờ, chia ly là bến
tiếng chày khuya lay động rẻo trăng mờ
Đầy vơi những dòng thơ
hay sông qua trúc tre chảy thành giai điệu sóng
khi sông thành cánh võng
lưu vực Hồng Hà chạm trùng điệp Trường Sơn
Nghe sông Hồng hành quân
ta bỗng nhận ra chiếc nôi hình bào thai của mẹ
treo vào những mái khuya thao thức ru bao nhiêu thế hệ
bằng chiếc áo sen dệt lên từ ánh bùn và chẽn đòng đòng phất phơ trong vạt nắng ca dao
Ta từng gặp sông Hồng trên cao
như mây núi giăng giăng theo đội hình cột mốc
màu áo biên cương trập trùng phương Bắc
những đợt sóng lau vang vọng chân trời
Ngoài kia xa khơi vẫn sông Mẹ gọi
Hoàng Sa, Trường Sa từng thước biển nồng nàn
chiều ba mươi chàng Lang Liêu gói bánh
gió Hồng Hà thành lạt buộc mênh mông
Cầm trên tay một nhánh sông Hồng
ta mở cửa bước vào mùa xuân mới
nét thư pháp giêng hai chấp chớp
giữa bầu trời chim én viết lên…
TA NHƯ NGUYÊN ĐÁN CỦA NHAU
(Tặng các chiến sĩ cảnh sát hình sự)
Cởi ra chiếc cúc áo xuân
Này em, nguyên đán đang gần quá thôi
Thảo thơm, nhẹ nhõm đất trời
Mưa bay khe khẽ như lời tháng giêng
Gió gì gió cứ nghiêng nghiêng
Sông gì sông cứ chảy bên cái nhìn
Nắng gì nắng cứ lung linh
Yêu gì yêu cứ như nghìn năm ta
Những ngày biền biệt cách xa
Giữa bao trong đục, gian tà bủa vây
Cuộc sinh tử mấy ai hay
Thương trong im lặng, nhớ đầy lo âu…
Giao thừa biết cất vào đâu
Chúng mình nguyên đán cho nhau bồi hồi
Mùa xuân cũng kịp đến rồi
Mở ra ngan ngát đất trời lâng lâng…