(Nội dung bài viết được trích từ bài chân dung nhà thơ Hà Văn Thể của nhà thơ Bình Nguyên Trang)
Mỗi người làm thơ đều có một cõi riêng để đi về. Với Hà Văn Thể, đó là cõi của nỗi buồn, của cố hương biền biệt xa, của hiện tại cực nhọc đắng cay nhưng chưa bao giờ tuyệt vọng. Trong bài thơ Sắc thuốc cho con, ông tự hỏi: “Thuốc nào chữa được mấy vòng trần ai”, và chính ông tin vào một thang thuốc mang tên hy vọng. Thơ, suy cho cùng, chính là thứ thuốc lặng lẽ ấy.
So với nhiều nhà thơ cùng tuổi Đinh Dậu, Hà Văn Thể không chọn ồn ào. Ông không bận tâm xuất hiện, phát ngôn, in ấn thế nào. Người ta nói, “thơ là người”. Người sao thì thơ vậy. Và ông là người viết cái thật trong mình: đã sống, đã dằn vặt, đã thương nhớ. Thơ ông có sự hồn hậu, chất phác của tâm hồn trung du – vốn xa lạ với mọi hình thức mỹ miều tô vẽ.
Những câu thơ ấm như khoai như sắn của vùng đất ấy đã thành thứ “căn cước thẩm mỹ” riêng:
“Đất trung du miên man dốc đồi
Bước lên thì cao
Bước xuống thì thấp
Cây cọ đứng bên bờ ruộng rộc
Kiêu hãnh thả lên trời những chiếc lá xanh
Người trung du quen cuối thác đầu ghềnh
Không ngay thẳng, thật thà không sống được…”
(Ai về Phú Thọ)
Ở đó, tính thẳng và thật không chỉ là phẩm tính người trung du, mà còn là tinh mạch trong thơ Hà Văn Thể. Ông không buộc mình vào sứ mệnh thi ca, không chủ trương đổi mới tân kỳ, không “làm dáng” ngôn từ. Thơ đến với ông như khí trời, như nước uống. Câu chữ đôi khi thô mộc, đôi khi bay bổng, nhưng bao giờ cũng trung thực.
Ông viết trước hết cho mình – để ghi nhật ký tâm hồn, để trút bỏ những ẩn ức vui buồn, để tìm một cớ mà tin vào cuộc đời. Đối thoại từ bên trong là cuộc đối thoại cô đơn nhất, và Hà Văn Thể hiểu điều ấy sâu sắc. Thơ ông vang lên từ những đêm sắc thuốc cho đứa con chậm nói, từ nỗi xót xa của người chồng trước bệnh tật vợ mình. Bài Sáu năm là một trong những tiếng nói chạm sâu ấy:
“Sáu năm nửa tỉnh nửa mê
Chồng đi không biết, con về chẳng hay…
Nhà neo, bệnh tật trái ngang/
Khổ từ người ốm, khổ sang người lành”.
(Sáu năm)
Cuộc sống thử thách Hà Văn Thể không phải trong những chuyến rượu hay những cuộc xê dịch, mà ở căn nhà có người vợ bệnh tật, đứa con ốm đau. Đồng nghiệp biết ông như người thợ ong cần mẫn: chu toàn việc cơ quan, việc nhà, việc con. Có khi ông vào vai người mẹ ru con, tàn đêm ngồi nhìn con bớt sốt. Những điều khó nói ấy lặng thầm đọng lại trong câu thơ:
“Tuổi năm mươi lặng im anh lại học
Lặng lẽ để vui buồn, lặng lẽ để thương nhau”.
(Tuổi năm mươi)
Một nốt lặng của người đã quen “cuối thác đầu ghềnh”, đủ để hiểu rằng đời người ngắn ngủi như mây lưng trời, và sau cùng chỉ còn lại tình thương.
Thơ Hà Văn Thể thường quay về cố hương: một tiếng chim cu gáy, một ngôi miếu thờ tổ, bến nước, dòng sông cạn. Những hình ảnh tưởng đã quá quen, vậy mà trong tay ông lại giữ được nguyên khí của buổi ban sơ con người yêu quê. Đọc thơ ông, xin đừng tìm thi ảnh lạ. Hãy lắng nghe im lặng trong từng dòng, như lắng nghe giọt sương đầu cỏ chứa cả mùi hương đêm và bóng tối vừa tan.
Đó là tinh chất của thơ Hà Văn Thể: một tiếng buồn nhưng không phải lời than, một tiếng buồn được thắp sáng bởi thương yêu.
Minh chứng, xin đọc “Hoa muộn” một trong những bài thơ đẹp nhất về thân phận và thời gian:
“Có bông hoa nở muộn
Rực rỡ riêng góc vườn
Cạnh bông hoa nở sớm
Đã tàn theo gió sương…
Người đi từ năm cũ
Và người đến bây giờ
Bao chuyến đò định mệnh
Bến trần gian vẫn chờ…”
Sống đến một độ tuổi, con người lo âu trước hữu hạn của mình. Nhưng nếu cần một thang thuốc cho nỗi âu lo ấy, Hà Văn Thể vẫn đặt vào tay ta hy vọng: còn hy vọng, thì con đường không bao giờ là điểm cuối, và cái đẹp không bao giờ tắt tiếng gọi.
Trong sự rực rỡ muộn màng của bông hoa nơi góc vườn trung du, thơ ông gửi đến người đọc một điều giản dị mà sâu xa: mỗi số phận đều có mùa nở của riêng mình.
——-
Chủ nhật, VĂN HỌC CÔNG AN giới thiệu những câu thơ hay của nhà thơ Hà Văn Thể
Hà Văn Thể, người lính thơ từ trung du, đời anh là một hành trình dài dặc những tảng đá: đá của chiến tranh lùi xa, đá của gia đình tan vỡ, đá của đứa con mười năm câm lặng. Nhưng từ những tảng đá ấy, anh cưỡi lên bay, bay qua phố phường, đồng ruộng, bay qua cả những hoảng loạn của chính mình:
“Tôi cưỡi đá bay qua phố phường, đồng ruộng
Hoảng loạn gọi con người – người trốn biệt nơi nao”
Nhưng từ đá tảng, từ câm lặng, một ngày lời yêu thương nảy nụ:
“Bỗng hôm nay được nghe con nói
Lời yêu thương nảy nụ giữa ngày xanh
Cha nín lặng thấy lòng mình òa vỡ
Muôn tiếng đàn ngân nga, rưng rưng…”
Mỗi sinh linh nhỏ bé là một niềm hy vọng. Mỗi ngày là một thang thuốc dồn hy vọng:
“Nửa đêm sắc thuốc cho con
Thêm thang hy vọng cha dồn vào đây”
Tuổi năm mươi, anh lặng im học yêu thương:
“Tuổi năm mươi lặng im anh lại học
Lặng lẽ để vui buồn, lặng lẽ để thương nhau”
Và tuyên ngôn thơ, giản dị như hơi thở:
“Những sinh linh hữu hạn, nhỏ bé, yếu ớt
Và như thế mỗi ngày âm thầm tôi viết
Thơ sẻ chia không né tránh bao giờ”…
Kiếp sau, anh xin làm cây hoa dại bên đường, nở bốn mùa để nghe tiếng người râm ran. Vì đời anh, thơ anh, chỉ là một hành trình dài từ đá tảng đến hoa muộn hoa nở muộn nhưng rực rỡ riêng góc vườn, bên những bông hoa sớm đã tàn theo gió sương.