Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt.
Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết. Chính trong không gian tưởng như tận cùng tuyệt vọng ấy, anh chọn cầm bút, viết ra những trang văn triết lý, lặng như mạch nước ngầm dưới đáy tâm hồn người lầm lỡ.
“Nơi trăng không hắt bóng” – cuốn tiểu thuyết vừa nhận giải C cuộc thi viết tiểu thuyết, ký về đề tài “Vì An ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống” lần thứ V do Bộ Công an và Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức – Tô Giang đã bước ra khỏi định danh “cựu phạm nhân” để trở thành một giọng văn khác biệt.
Nhà văn Sương Nguyệt Minh đánh giá tác phẩm của anh là một thế giới không có vùng cấm, nơi số phận người tù hiện lên bằng chiều sâu suy tưởng hơn là tiếng ồn hung bạo. Văn chương ấy nhắc lại một sự thật không dễ nhìn thẳng, có những lầm lỡ cần trừng phạt, nhưng cũng có những linh hồn cần được cứu vớt.
VĂN HỌC CÔNG AN giới thiệu cuộc trò chuyện giữa DƯƠNG BÌNH NGUYÊN và TÔ GIANG, một phần cuộc trò chuyện đã được đăng trên báo AN NINH THẾ GIỚI cuối tháng, phát hành ngày 25.11.2025.
-Ở nhiều nơi, nhà giam là nơi chấm dứt câu chuyện của một con người. Nhưng với anh, đó lại là khởi điểm cho việc viết. Theo anh, khoảnh khắc nào phân tách một kẻ bị kết án với một con người bắt đầu tái sinh?
-Khoảng đó trong văn học nghệ thuật dạo này thường có thuật ngữ : điểm chạm. Đấy là ranh giới tận cùng của nỗi đau. Tưởng chừng như chết đi còn sướng hơn những khổ đau của mất tự do. Rồi được thức giấc trong một sớm mai nghe tiếng chim hót trong nhà tù. Quan sát thấy như được hồi sinh trong kiếp sống mới đầy ánh sáng.
Chúng ta không định danh về nơi chốn. Xã hội định danh nhưng bản thân thực thể ở trong đó cho rằng mình không phải như thế. Ví dụ chiếc áo cà sa không làm nên đời thầy tu. Cũng có những người ở một cuộc đời là tù nhân nhưng lại minh chứng cho một vì sao toả sáng tại nơi được coi là đêm tối cuộc đời trong cuốn sách “Nếu không có ngày mai” của tôi. Đấy là những thông điệp mà tôi là người trải nghiệm, cũng là người ghi chép.
-Anh từng viết: “Không phải ai bị giam cũng hoàn toàn có tội…”. Khi một người viết thốt lên câu đó, ở dưới câu chữ ấy là gì: trải nghiệm cá nhân, dịch chuyển nhận thức, hay là điều gì khác?
-Tất cả, mọi hệ thống pháp luật đều có những vùng xám nhất định, kể cả phương Tây lẫn phương Đông. Tuy nhiên điều tôi nói, theo nghĩa, việc trải qua lao lý giúp mình có trân quý cuộc sống, là cảm hứng sống lại cuộc đời lần thứ hai. Tôi không chối bỏ tội lỗi, mà suy ngẫm về con người mới mà mình hướng đến.
-Trong nhiều hệ thống pháp luật, có một định đề quan trọng: Con người có quyền tái thiết cuộc đời sau sai lầm. Nhưng thực tế cộng đồng xã hội đôi khi trừng phạt lâu dài hơn cả bản án. Theo anh, đâu là ranh giới mỏng manh giữa bảo vệ cộng đồng và khước từ con người?
-Câu hỏi này rất hay. Nó xoáy sâu vào quy chuẩn đạo đức. Những quy chuẩn đó biến đổi theo bối cảnh lịch sử. Tôi thường tự lấy cảm hứng sống cho cuộc đời đã từng đi vào ngõ tối của mình như thế này: Đất nước Úc được hình thành từ một cuộc di cư những nhà tù lớn của Vương quốc Anh vào thế kỷ thứ 18. Ngày nay đó là vùng đất đáng sống một cách kỳ lạ với sự ngăn nắp và trật tự. Tôi ngạc nhiên bởi sự nhân hậu nơi đây. Nhất là trong những ngày tháng tôi luôn đối mặt với bản án cùng hệ thống công lực và cai ngục nơi đây.
Tôi khát khao được hồi sinh cuộc đời, một cuộc đời bình thường nhất. Tuy nhiên, nói cho cùng, ở đâu cũng vẫn còn sự kỳ thị nhất định đối với người đã từng lầm lỡ. Làm sao xoá hoàn toàn định định kiến ấy?
Câu trả lời là không thể. Người lầm lỗi chỉ có thể dựa vào thiên lương trong chính mình, để trở lại, tử tế hơn. Nếu cứ mắc kẹt ở quá khứ thì chính mình đã tự khước từ mình đầu tiên rồi. Bước ra sáng thì không còn tối. Bước ra đi, dũng cảm, mạnh mẽ nào! Đấy là điều tôi muốn nói, dù ở tác phẩm nào.
-Có bao giờ anh tự hỏi: nếu không đi đến tận cùng bóng tối của chính mình, liệu anh có bao giờ hiểu được bản chất của ánh sáng như một lựa chọn, chứ không phải một ân huệ?
-Tôi khẳng định rằng bóng tối chỉ mang lại khổ đau thôi. Vì thế mình thoát ra, lựa chọn ánh sáng để sống hạnh phúc hơn. Thế thôi!
-Khi viết trong tù, anh thay đổi điều gì trước: ngôn từ, trật tự đạo đức hay định nghĩa về tự do?
– Tôi đã tìm thấy tự do khi bắt đầu viết, dù khi ấy là trong nhà giam. Chữ nghĩa là một sự giải thoát. Tôi cho rằng không ai có thể gông cùm ý chí và khát vọng được sống lại cuộc đời một lần nữa.
-Một triết gia nói: Con người không sợ hình phạt, con người sợ nhìn thấy mình. Anh có đồng ý rằng sự hoàn lương không bắt đầu từ tòa án, mà bắt đầu từ sự dũng cảm nhìn vào cái phần xấu xí nhất của bản thân?
-Trong Đạo Phật lại có : “Chỉ khi mời gọi những lỗi lầm ra, nhìn nó bằng ánh sáng chánh niệm thương yêu vỗ về an ủi, chở che nó thì khi đó ta mới không sợ quá khứ tội lỗi”. Ta mà không thương mình, không thượng tội lỗi của chính mình, thì đời sao thương được.
-Tôi tôn trọng quan điểm của anh. Vậy nếu được diễn đạt theo cấu trúc một cuốn tiểu thuyết, chương đau đớn nhất đời anh kết thúc ở đâu, và chương đẹp nhất bắt đầu từ điểm nào?
-Sau cuộc rượt đuổi trốn tìm kéo dài 5 năm ròng. Tôi đền tội. Đó lúc tôi tra tay vào còng số 8, tiếng máy bộ đàm, âm thanh loạch xoạch của những băng đạn, khẩu súng được khoá nòng lại, lực lượng SQuat tiểu bang Vic – Úc dẫn tôi đi giữa những chiếc xe nháy đèn xanh đỏ, ở phía trên là chiếc trực thăng dọi đèn xuống chói loà. Tôi đau đớn nhưng vẫn tưởng đến ánh đèn sân khấu nơi tôi đã từng 3 lần liên tiếp từ 2007-2009 đạt giải vàng liên hoan truyền hình ở Việt Nam. Ở đó tôi hãnh diện nâng cao bằng khen và huy chương.
Quay lại thực tại, đôi bàn tay ấy đã bị chiếc còng lạnh ngắt chụp lấy. Nó là một cú đập mạnh về cảm xúc. Vẫn ánh đèn, vẫn đôi tay này mà sao cuộc đời khác biệt. Đó là một chương vừa đau đớn vừa bi tráng cho cuộc đời ưa trải nghiệm và có khi liều lĩnh như tôi.
-Anh viết về người tù nhưng không viết bằng thứ ngôn ngữ chém giết, giang hồ; thay vào đó là im lặng, triết lý và sự suy tư được kìm nén. Có phải anh tin rằng bạo lực thật sự nằm ở nơi không một tiếng súng được bắn ra?
-Câu hỏi này chắc bạn đã đọc rất sâu vào tiểu thuyết “Nơi trăng không hắt bóng”. Nơi đó tôi hi vọng gặp được đồng cảm. Tôi quan niệm rằng, nếu văn học miêu tả bạo lực bằng chém giết, nó quá ư bình thường. Bạo lực không nên là cám dỗ trong văn chương, nó phải là thứ được văn chương giảm trừ. Và đó là sứ mệnh của người viết.
-Trong “Nơi trăng không hắt bóng”, cái chết của sĩ quan Hà An buộc người đọc phải đối diện với một đạo đức không phân tuyến. Anh mong người đọc rời khỏi trang sách với cảm giác gì: hoang mang, thức tỉnh, hay đơn giản là không còn dám phán xét vội vàng?
-Đó là câu trả lời cho thực tế và thực tại. Cho dòng văn học hiện thực phê phán, một mảng sáng tác tuyệt vời của văn học Việt Nam mà tôi đã được học, được thưởng thức. Đã từ lâu, tôi tự hỏi mình đang ở đâu? Có nên chăng tiếp nối tinh hoa ấy trong sáng tạo của mình. Tôi ưu tư, suy ngầm và tôi đi tìm. Hà An hi sinh bởi sứ mệnh văn học của cô ấy. Tôi cho rằng đó là một lẽ sống cao đẹp mà chúng ta đang sẵn sàng để sống một cuộc đời trọn vẹn.
-Theo anh, văn chương có thể cứu một con người khỏi sụp đổ hoàn toàn hay không? Hay nó chỉ là nơi lưu giữ chứng cứ rằng chúng ta đã cố gắng không gục xuống?
-Tôi đang sống trên cuộc đời văn chương đấy thôi. Tôi chấp nhận khó nhọc và sự chưa thấu hiểu của người đời. Kể cả những người thân thích họ vẫn luôn hồ nghi con đường văn chương, nhất là thời đại hiện nay khi vật chất đang có ảnh hưởng rất lớn. Thế nhưng, bản thân tôi mà phản bội niềm tin ấy của mình thì tôi đã thất bại rồi.
Quay lại câu trả lời: Tôi viết về trải nghiệm về chiêm nghiệm trước hết là để chữa lành những vết thương quá khứ và rải lên đó những câu từ thật đẹp để hình thành văn chương có trách nhiệm với xã hội và con người. Trải qua nhiều cung bậc nay, danh – lợi, với tôi là hư vinh. Tôi chỉ đang đi tìm tôi. Tôi là gã thợ săn, có khả năng sẵn sàng vào một cuộc săn lùng ý tưởng ngay trong tâm trí mình để kết tinh nó trên những trang viết.
-Với những người tin rằng: “Thất bại chỉ là một chương tạm thời”, anh thấy câu đó là hy vọng hay cũng có khi là cái cớ nguy hiểm khiến người ta liều thêm một bước nữa?
-Tôi không cho rằng thất bại là chương tạm thời. Mà nó đang còn ở phía trước. Tôi sẵn sàng đối mặt. So với trước đây, thất bại trong số phận của “dân chăn mèo” (cụm từ chỉ những người trồng cần sa bất hợp pháp ở Úc – PV) là họng súng, đô la, gái đẹp, là máu và kể cả mạng sống; thì thất bại trên con đường văn chương là thất bại quá an toàn.
-Nếu một đứa trẻ đang ngấp nghé trước sai lầm, không phải vì họ xấu, mà vì họ chưa đủ sâu sắc để nhận ra hậu quả, anh sẽ nói gì để họ dừng lại mà không cần trải qua địa ngục như anh?
-Nếu một người trẻ ngấp nghé trước nhiều lựa chọn xin đọc hai cuốn sách của tôi “Dân chăn mèo” và “Nếu không có ngày mai”. Tôi nghĩ từng đó đủ họ thấu được về những lầm lỡ của lựa chọn cách sống. Và cách quay lại nếu lỡ bước…
-Sau cùng, theo anh chúng ta hoàn lương vì muốn được xã hội tha thứ, hay vì chúng ta không chịu nổi việc tiếp tục phản bội chính mình?
-Ánh sáng là thứ khát khao mà những người lỡ chìm sâu trong bóng tối muốn thoát ra. Thông điệp của tôi vẫn là cõi sáng trong phận người. Tôi sẽ tiếp tục đi con đường này!
-Xin cảm ơn anh!
❤️Lời nhắn từ admin tới bạn đọc (đặc biệt là bạn đọc nữ): Bạn đọc mua sách liên hệ lái xe kiêm chủ tiệm Sách Trên Mây qua FB Tô Giang hoặc số điện thoại 0988117717. Chủ tiệm hàng ngày tập gym nên body 6 múi chỉ còn thiếu người nâng khăn sửa túi mà thôi
NHÀ VĂN TÔ GIANG: 30 THÁNG TÙ, NHỮNG TRANG VIẾT ĐAU ĐỚN VÀ GIẢI THƯỞNG CỦA BỘ CÔNG AN