Trong đời sống công vụ của lực lượng Cảnh sát giao thông, có những con người gắn cả đời mình với tai nạn, va chạm, mất mát và những cuộc gọi khẩn cấp trong đêm. Nguyễn Đức Thịnh là một người như thế. Nhưng khác với nhiều đồng đội, bên cạnh bộ quân phục và sổ trực ban, ông còn mang theo thơ như một phần không thể tách rời của đời sống tinh thần.
Hơn hai mươi năm công tác trong lực lượng Công an, từng gắn bó dài lâu với vùng Tây Bắc rồi trở về Hà Nội làm nhiệm vụ tuyên truyền, khám nghiệm tai nạn giao thông, Nguyễn Đức Thịnh đối diện hàng ngày với những hình ảnh khốc liệt của sinh tử nơi mặt đường.
Tiếng chuông điện thoại trực ban có khi trở thành nỗi ám ảnh, bởi mỗi cuộc gọi có thể là một vụ tai nạn, một số phận bị đảo lộn. Ông từng chia sẻ: có lúc vừa gấp máy xong, lòng người còn chưa kịp lắng thì đã phải lao ra đường làm nhiệm vụ.
Chính trong những khoảng khắc căng thẳng ấy, thơ đến với ông như một cách tự cứu rỗi. Bài thơ đầu tay “Lá thư sau phiên gác” ra đời từ một đêm gác ở Tây Bắc, khi nỗi nhớ nhà dâng lên trong sương núi lạnh. Từ đó, ông viết đều đặn suốt nhiều thập niên, ghi lại bằng câu chữ nhịp sống của người lính, những phiên tuần tra, những con đường đêm, ánh trăng, sương rừng, suối vắng và cả nỗi xót xa sau mỗi vụ tai nạn giao thông.
Thơ Nguyễn Đức Thịnh bình lặng, chậm rãi, mang hơi thở đời lính và nhịp điệu của rừng núi. Hai tập thơ “Dưới ánh trăng” và “Khoảng sáng hình tam giác” ra đời như những cuốn nhật ký tinh thần, nơi người đọc bắt gặp một chiến sĩ giao thông biết rung động trước vẻ đẹp mong manh của đời sống, đồng thời không né tránh nỗi buồn, nỗi ám ảnh nghề nghiệp.
Điều khiến đồng đội và bạn đọc trân trọng Nguyễn Đức Thịnh không chỉ nằm ở thơ, mà còn ở cách sống. Ông là người sẵn sàng quỳ xuống lề đường nhặt từng con cá giúp một phụ nữ bị ngã xe. Là người tận tụy trong từng ca trực, từng hiện trường. Là người giữ kỷ luật nghiêm cẩn của một chiến sĩ, nhưng không đánh mất sự nhân hậu của một con người.
Trong một đời sống công vụ vốn khắc nghiệt và căng thẳng, Nguyễn Đức Thịnh chọn cách giữ cho mình một khoảng sáng. Khoảng sáng ấy đến từ thơ, từ thiên nhiên, từ ký ức bản làng nơi ông từng sống và chiến đấu. Và chính khoảng sáng đó giúp ông đứng vững giữa mưa nắng, giữa những âm thanh chát chúa của đô thị, để tiếp tục làm nhiệm vụ của một người “giữ đường”, và đồng thời giữ gìn phần người sâu thẳm trong chính mình.
Chủ nhật, 30.11.2025, VĂN HỌC CÔNG AN trân trọng giới thiệu chùm thơ NGUYỄN ĐỨC THỊNH
KHOẢNG SÁNG HÌNH TAM GIÁC
Những ngọn núi đá cao
Chồng lên nhau đưa ta đến cổng trời
Núi nghiêng, lọt xuống thung khe
Một khoảng sáng hình tam giác
Đồng Văn ơi!
Ngọn đá mãi tận đâu?
Để mỏi bước chân, mắt nhìn cao… cao mãi
Em xuống chợ
Gió thổi, gió thung thăng trong váy
Hoa cỏ bên đường quấn lấy bóng em.
Chợ kia rồi màu ô tím thân quen
Vẳng tiếng khèn môi làm tim em náo nức
Thấy anh rồi mà gặp anh sao được
Bởi con đường quanh co
Bao chân núi cứ xa vời
Khoảng sáng hình tam giác ở chân núi kia rồi
Đã như quen…. vẫn như lạ.
Cỏ như nhung đẫm gốc thông già
Ước một lần
Được đứng trên khoảng sáng hình tam giác
Được một lần
Khỏa nước giữa dòng khe.
MỘT THOÁNG TRUNG DU
Tôi lại về với Trung du
Lần theo một cánh diều thu ngang trời
Cánh diều chở tuổi thơ tôi
Từ Đồng cam đến chợ đời Cầu tây
Sông Thao đôi mái chèo gầy
Bên kia đồi cọ, bên này đồng xanh
Lần theo dấu những mái tranh
Gặp xôn xao nét thị thành hôm nay
Cây đa, bến nước còn đây
Bạn xưa bặt bóng chim bay cuối trời
MƠ MỘT CHỒI XANH
Một dải đá rêu phong cẩm thạch
Giữa ngàn lau tuyết gió miền tây
Một thân trò đứng ngàn năm tuổi
Xanh với trời xanh một bóng cây
Tôi muốn đi từ gốc cây lên ngọn
Tốc độ trung bình của một con sên
Để lần tìm thăng trầm nơi cây đứng
Mưa nắng gió gào cây cối ngả nghiêng
Có phải cây vượt qua ngàn giông bão
Mà gốc bền không mấy gian lao
Ngọn cây còn dấu tay nào sót lại
Dào dạt ngày xưa, thiên cổ bây giờ
Tôi muốn hoá vào trong từng thớ gỗ
Để mỗi ngày bật sáng một chồi xanh
Dẫu nhỏ bé cũng sinh từ cổ thụ
Giữa đất trời bao giông tố mong manh.