Phú Yên gió nhiều, nắng gắt, cát mặn, sông lặng. Con người ở đây quen chịu đựng hơn là kể lể. Thơ của Trần Lê Anh Tuấn mang đúng cái khí chất ấy: ít bộc lộ, nhiều nén lại, chậm rãi như nhịp sóng Tuy Hòa những ngày biển lặng.
Trong thơ anh, miền Trung không hiện lên bằng những biểu tượng lớn. Nó đi vào bằng những chi tiết rất nhỏ: một dòng sông cũ, một người thợ lặng lẽ, một căn phòng trọ khuya gió, một mùa mưa đi qua không kịp gọi tên. Mọi thứ đều thấp giọng. Cảm xúc không bộc phát mà thấm dần, như đất thấm nước sau những trận gió nồm dài ngày.
Anh lớn lên từ xứ Nẫu, nơi người ta quen nói cụt lủn, sống thì bền bỉ, thương thì sâu mà giấu. Có lẽ vì thế mà thơ Trần Lê Anh Tuấn không ưa phô trương. Câu chữ luôn được giữ ở độ vừa đủ. Không đẩy lên cao, cũng không buông thõng. Nhiều bài thơ của anh giống một khoảng gió lùa qua sân vắng: đi rất nhanh, nhưng để lại một rỗng lặng rất lâu.
“Phố trọ” ra đời sau hơn mười năm viết trong im lặng. Hai mươi bảy bài thơ không mang dáng vẻ của một cuộc ra mắt, mà giống như một lần mở cửa căn phòng đã khép kỹ suốt nhiều mùa. Thơ anh có khi đứt khúc, có khi bỏ lửng, có khi chỉ còn là hơi thở của chữ, mỏng nhưng dai.
Nhiều năm, anh công tác tại Công an tỉnh Phú Yên cũ (nay là Công an tỉnh Đắc Lắc), sống giữa nhịp kỷ luật của hồ sơ, ca trực và những đêm dài có tiếng sóng rất gần. Công việc có thay đổi, xứ biển nối với cao nguyên, nhưng nhịp sống vẫn vậy. Chỉ có thơ là mang theo nguyên vẹn hơi mặn xứ Nẫu, tiếp tục đi giữa bazan, mưa rừng và những đêm cao nguyên.
Trong không khí thơ hôm nay nhiều chuyển động, Trần Lê Anh Tuấn chọn một cách tồn tại rất riêng: khô, chậm, ít lời.
Như chính đất Phú Yên, không ồn ào, nhưng bền bỉ ở lại trong ký ức người đi qua.
Chủ nhật, 7.12.2025, VĂN HỌC CÔNG AN trân trọng giới thiệu chùm thơ của cây bút trẻ trong lực lượng CAND Trần Lê Anh Tuấn.
CÂY MÙA XUÂN
Nửa đời gió bụi
Cây đã rụng bao mùa mây
Chiếc lá về trời lao đao qua núi
Vết nứt nào chảy vào tim say
Tháp bàn tay êm xanh tiếng gió
Ru lòng du mục rỗng rinh xưa
Thương bầy chim mãi tìm trái đỏ
Mắt mộng ngoái về như hạt mưa
Sóng đi đêm đắm vào quên lãng
Hải đăng không sáng xuống chân mình
Cây mùa xuân mênh mang đứng đợi
Lời tháp cổ
ai dịch
những lá rơi.
—-
PHỐ TRỌ
Tôi trọ đã ba phố
Mỗi lần đi lỉnh kỉnh sao khuya
Ai cũng có một nơi để mà về lại
Dẫu ngõ nhỏ đường cúc sương mờ
Đôi lần để quên mùi nhớ
Lặng thầm hoa nở ngã ba
Đôi khi lãng quên tháng sáu
Ngược nhầm mưa chiều thẳm xa
Tôi trọ đã ba phố
Mỗi lần đi chất đầy gió khuya
Ai cũng có một bài ca để hát
Dẫu tha thẩn tận chân trời
“Em cũ kĩ như mùa đông
Phố cũ kĩ như mùa đông
Mà tôi vẫn như mây trời mùa hạ
Cuộc tình như ngọn thông
Đi xuyên miền sương trắng…”
Tôi trọ đã ba phố
Mỗi lần đi thêm một tuổi khuya
Chiếc chìa khóa cũ thân quen
Giờ lần tìm từng góc xưa rêu phủ
Ai cũng có một bầu trời để thở
và mặt đất chẳng ngủ yên.
——
NGƯỜI SỬA GIÀY
Ông ngồi đó đã ba mươi năm
Chiếc bóng trên tường nhiều lần rét căm
Mà đôi tay chưa một lần ngơi nghỉ
Tôi hỏi tháng năm mưa gió cuộc người
Ông cười cây phố lá đổ khổ ngã tư
Tháng giêng có màu mắt xanh phải không
Ngày xưa gót hồng bên kia sông
Cỏ lau ngại ngùng trắng
Tôi lặng im nhìn ông khâu kỉ niệm
Mà lòng hở ra nỗi nhớ thương
Ông ngồi đó đã ba mươi năm
Trên tay nâng niu từng bước chân lạ
Bên kia sông
Người đi chìm nổi hai bờ sóng
Ngày hoa cải về trời
Trăng rơi vàng ngõ phố
Bây giờ tuổi hoa tóc
Ai đợi chờ mùa sau
Ông ngồi đó đã ba mươi năm
Như dấu hỏi đời mình.
——-