TỪ CHIM LẠC TRONG MV SƠN TÙNG M-TP: KHI TRUYỀN THỐNG KHÔNG PHẢI THỨ BẤT BIẾN

Tranh luận quanh hình tượng chim Lạc trong MV mới của Sơn Tùng M-TP không chỉ là câu chuyện về một biểu tượng văn hóa. Nó cũng mở ra một câu hỏi lớn hơn: những điều chúng ta gọi là “truyền thống dân tộc” thực sự đã tồn tại từ bao giờ, và bao nhiêu phần trong đó là sản phẩm của quá trình kiến tạo lịch sử kéo dài suốt thế kỷ XX?
VHCA trân trọng giới thiệu bài viết của tác giả TRẦN QUANG ĐỨC trên tạp chí Tia Sáng
CHIM LẠC – MỘT TRUYỀN THỐNG DO HẬU THẾ KIẾN TẠO
Các khái niệm “Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương”, “Văn hóa Đông Sơn”, hay “chim Lạc” lần lượt được hình thành trong thế kỷ 20. Điều ấy không có nghĩa là chúng mất đi giá trị, mà nhắc chúng ta rằng truyền thống luôn là một dòng chảy vận động.
Trong những ngày gần đây, có nhiều tranh luận xoay quanh hình tượng chim Lạc. Có người xem đó là biểu tượng thiêng liêng của dân tộc, là hình ảnh tổ tiên, là linh vật gắn với cội nguồn Việt Nam. Nhưng nhìn từ góc độ văn hóa sử, câu chuyện chim Lạc và trống đồng lại là minh chứng cho khái niệm truyền thống được kiến tạo, được hiểu là những biểu tượng, nghi lễ, câu chuyện được xây dựng nhằm tạo nên ký ức chung, niềm tin chung và cảm giác thuộc về một cộng đồng chung. Từ đó, có thể thấy, truyền thống không chỉ là thứ được kế thừa từ quá khứ, mà đôi khi còn là thứ được xây dựng trong hiện tại.
Năm 1924, một người câu cá phát hiện một số hiện vật bằng đồng tại làng Đông Sơn bên bờ sông Mã (Thanh Hóa). Từ phát hiện ban đầu ấy, viên thuế quan người Pháp L. Paijot tiến hành những cuộc khai quật tiếp theo. Mười năm sau, năm 1934, học giả Robert von Heine-Geldern đề xuất thuật ngữ “Văn hóa Đông Sơn” để gọi cả một nền văn hóa thuộc thời đại kim khí cách đây khoảng hai đến ba nghìn năm. Như vậy, tên một ngôi làng nhỏ bên bờ sông Mã từ đó trở thành tên gọi của cả một nền văn hóa rực rỡ.
Nhưng điều đáng chú ý là trước khi những chiếc trống đồng được khai quật trên diện rộng, trước khi khái niệm “Văn hóa Đông Sơn” xuất hiện, ý niệm về Đông Sơn trong tâm thức của số đông người Việt hầu như không tồn tại. Ngay cả hình ảnh các vua Hùng cũng không phải từ xa xưa đã là biểu tượng quốc gia theo nghĩa hiện nay. Mãi đến năm 1917, vua Khải Định chuẩn y theo lời tấu của tuần phủ Phú Thọ Lê Trung Ngọc mới quyết định chọn ngày giỗ chung cho các vua Hùng (trước đó chỉ có dân bản địa cúng tế, một năm hai kỳ, mùa xuân và mùa thu) [1]. Đó là lần đầu tiên xuất hiện một ngày quốc lễ thống nhất dành cho các vua Hùng trên phạm vi cả nước. Nói cách khác, nhiều điều ngày nay chúng ta cảm thấy rất quen thuộc thực ra lại là những kiến tạo tương đối muộn màng.
Đầu thế kỷ XX, giới trí thức Việt Nam thậm chí còn có cái nhìn khá bi quan về thời kỳ tiền sử của dân tộc. Như năm 1909, trong Việt Nam quốc sử khảo, Phan Bội Châu từng viết: “Người Giao Chỉ ở thời đại thượng cổ nói chung là ngớ ngẩn, chất phác, thật thà… Một vài người Giao Chỉ còn sót lại số lượng không bằng 1% dân số trong nước, lại rất là đần độn không biết gì, họ như người thời thái cổ.”
Ngày nay đọc lại, nhiều người có thể ngạc nhiên trước nhận xét ấy. Nhưng thực ra đó không phải quan điểm cá biệt. Trong bối cảnh đầu thế kỷ XX, khi các phát hiện khảo cổ học về Đông Sơn chưa xuất hiện, không ít trí thức Việt Nam cũng hình dung cư dân cổ xưa trên đất Việt như những cộng đồng còn ở trình độ thấp kém. Niềm tự hào về nền văn hóa Đông Sơn huy hoàng, việc xem Đông Sơn là cội nguồn của văn minh Việt Nam, thực ra là những nhận thức được xây dựng, hình thành về sau. Bước ngoặt quan trọng diễn ra từ những năm 1950.
Sau Cách mạng tháng Tám, nhà nước mới đứng trước nhu cầu xây dựng một hệ thống nhận thức mới về lịch sử, dân tộc và cộng đồng. Đề án Cải cách Giáo dục năm 1950 tại miền Bắc nêu rất rõ mục tiêu: “Cần phải xóa bỏ triệt để nền giáo dục cũ cùng với những tàn dư của nó về nội dung, phương pháp giáo dục và xây dựng một cơ sở tư tưởng mới, nhận thức mới về nền giáo dục dân chủ nhân dân.” Đó không chỉ là cải cách giáo dục, mà còn là quá trình xây dựng một câu chuyện chung về nguồn gốc dân tộc.
Trong bối cảnh ấy, các công trình của giáo sư Đào Duy Anh như Lịch sử Việt Nam – Từ nguồn gốc đến đầu thế kỷ XIX (1955) hay Nguồn gốc dân tộc Việt Nam (1958) có thể xem là những nỗ lực quan trọng nhằm kiến tạo một nhận thức mới về cội nguồn dân tộc Việt Nam, về một tổ tiên chung [2], lịch sử chung và những biểu tượng chung. Ngay cả cái tên “chim Lạc” mà ngày nay ai cũng quen thuộc cũng xuất hiện trong bối cảnh đó. Theo lời kể của giáo sư Trần Quốc Vượng năm 1974: “Chim lạc ư! Đây là chuyện đặt tên của thầy tôi, GS Đào Duy Anh. Là nhãn hiệu cho một hình ảnh. Nhãn hiệu này đẹp. Tính tư tưởng cao. Còn muốn tên khác ư? Các ông các bà muốn gọi nó theo kiểu tả thực bằng tiếng Việt nhà quê thì cứ thế này: cái cò, cái vạc, cái nông… Xong!”[3]. Nói cách khác, ngay cả tên gọi “chim Lạc” cũng là một sản phẩm của tư duy học thuật hiện đại.
Đối với mô-típ trang trí chim mỏ dài trên trống đồng Đông Sơn, cho đến nay chúng ta chưa có tư liệu nào chứng minh người Đông Sơn gọi nó là chim Lạc. Sự ngự trị của chim mỏ dài dạng cò, hạc bay ngược chiều kim đồng hồ thành một vành trang trí trên mặt trống đồng là khá ổn định, trải qua nhiều thế kỷ và mang tính biểu tượng cao [4]. Nhưng cũng chưa có tư liệu nào cho thấy họ thờ phụng nó như một linh vật hay vật tổ theo nghĩa tôn giáo. Những ý nghĩa thiêng liêng mà ngày nay chúng ta gắn cho hình tượng ấy phần lớn là kết quả của quá trình diễn giải sau này.
Tuy nhiên, nói vậy không có nghĩa những ý nghĩa ấy là vô giá trị. Mọi cộng đồng đều cần những câu chuyện chung, niềm tin chung. Mọi quốc gia đều cần những biểu tượng chung. Lá cờ, quốc ca, ngày quốc khánh, những biểu tượng văn hóa… rất nhiều thứ trong số đó đều là sản phẩm của những quá trình kiến tạo lịch sử diễn ra cách đây không lâu. Điều quan trọng không phải chúng có mang nguồn gốc cổ xưa hay không, quan trọng là chúng giúp cộng đồng kể cho chính mình nghe một câu chuyện chung như thế nào.
Rõ ràng, con người không chỉ kế thừa truyền thống, mà còn không ngừng kiến tạo truyền thống, bổ sung ý nghĩa mới cho truyền thống và làm cho truyền thống tiếp tục sống trong những bối cảnh mới. Vấn đề xuất hiện khi một cách diễn giải nào đó tự nhận mình là cách diễn giải duy nhất đúng. Khi ấy, biểu tượng văn hóa không còn là nơi kết nối cộng đồng nữa, mà trở thành công cụ để phán xét cộng đồng.
Nếu chim Lạc thực sự là biểu tượng của người Việt, thì nó thuộc về tất cả người Việt, chứ không thuộc riêng một nhóm học giả, một cơ quan quản lý hay một thế hệ nào. Mỗi thời đại đều có quyền đọc lại quá khứ bằng ngôn ngữ của thời đại mình. Mỗi thế hệ đều có quyền tìm kiếm trong những biểu tượng cũ những ý nghĩa mới phù hợp với đời sống của họ. Điều đáng lo ngại không phải là người trẻ đang làm mới truyền thống. Điều đáng lo ngại hơn là khi người ta bắt đầu thần thánh hóa truyền thống đến mức biến nó thành thứ bất khả xâm phạm, bất khả tranh luận và bất khả sáng tạo.
Bởi lẽ, lịch sử cho thấy chính những gì hôm nay được xem là truyền thống thiêng liêng cũng từng là những sáng tạo mới của một thời đại nào đó. Ngày giỗ Tổ Hùng Vương từng là một quyết định hành chính của triều Nguyễn vào năm 1917. Khái niệm Văn hóa Đông Sơn xuất hiện từ năm 1934. Tên gọi “chim Lạc” cũng là khái niệm được học giả Đào Duy Anh đưa ra vào năm 1955… Những điều ấy không làm chúng kém giá trị. Nhưng chúng nhắc chúng ta rằng truyền thống luôn là một dòng chảy vận động, chứ không phải một tảng đá bất di bất dịch từ ngàn xưa. Có lẽ cách tôn trọng truyền thống tốt nhất không phải chỉ tôn thờ truyền thống, mà là hiểu truyền thống, đối thoại với truyền thống, tiếp tục làm giàu truyền thống và trao lại cho thế hệ sau trong một hình thức vẫn còn sức sống. Suy cho cùng, truyền thống sinh ra để phục vụ con người đang sống. Không phải con người đang sống sinh ra để phục vụ truyền thống.