Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV6) của Đài Tiếng nói Việt Nam, nhà thơ – nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: “Miền sau cánh cửa” (2020) và Những cuộc trà trên căn gác cũ (2024). Ở “ô cửa” nào, “cuộc trà” nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn. Với anh, “bất cứ hành trình và trang viết nào cũng phải neo vào những cột mốc con người quanh mình hoặc ai đó hữu duyên gặp trên đường, nếu không chúng chỉ là những trang khảo cứu thiếu hơi người, rặt chữ mà vắng men say…”
Viết về “ký ức” với giọng văn rất riêng, anh đã trở thành một trong số ít những tác giả tạo dựng được phong cách ngay từ những tác phẩm đầu tiên. Nếu “Miền sau cánh cửa” là bản du ca, hội đủ những cung bậc về “ký ức và thân phận” thì ở “Những cuộc trà trên căn gác cũ” người đọc tiếp tục bắt trọn “ký ức” ở một vùng biên mới. Phía sau những guồng chữ chậm rãi là sự trở về của ký ức, ký ức của một “người già thích ngoái lại sau lưng”…
“Căn gác cũ” nép vào mùa đông, nghe đã quen những tiếng ho của nhiều thế hệ. Nơi ấy, có “những cuộc trà soi bóng thời gian”, có nhiều người ghé qua căn gác đó, “mỗi người một gương mặt, một tính cách”. Trẻ con hóng chuyện rồi quên nhưng cậu bé Trần Nhật Minh lại ghi nhớ. Cậu bé ấy giờ đã là một nhà báo, nhà văn có niềm yêu thích đặc biệt với chữ nghĩa. Con trai giống cha, nhà báo Trần Nhật Minh “thích cái dư phong còn sót lại của một thời”, cái thời xa rồi vẫn ám đằm như khói lúc trở mùa ngồi đốt thuốc, gẩy tàn qua song cửa, nỗi nhớ cứ thế rơi theo những tiếng rao, quanh co như “lòng con ngõ nhỏ”.
“Tuổi thơ bung nhanh hơn một cú đấm trẻ trâu… Thời gian thì vẫn bung quá nhanh hơn cả một cú đấm…” Cái âm hưởng trầm buồn trong lối viết của Trần Nhật Minh cứ đeo đẳng vào câu chữ khiến ta nao nao nhớ về ngôi nhà xưa, cái roi, cái cũi, cái liễn (mỡ), sách, khói và những ngày ta chưa biết buồn.
Ai cũng có những “căn gác” trong ký ức, có lẽ vì thế khi đọc “những cuộc trà trên căn gác cũ” người đọc không khỏi những bâng khuâng bởi ai cũng đã lớn lên theo cái cách mà tác giả đã từng chỉ khác là ở một không gian khác, một vùng suy tưởng khác. “Căn gác” có số phận, bản thân các thế hệ sống trong nó cũng có những câu chuyện riêng. Thời gian đưa tới sự xê dịch, khi cậu bé Nhật Minh biết buồn thì nhiều thứ đã rời đi, ký ức chỉ còn là những lần trở về trong thoáng, chốc, chập chờn trong đậm – nhạt, nhớ – quên…
Tư duy, mĩ cảm của một người sẽ trở nên khác biệt khi bên trong họ có một đời sống khác – đời sống của nghệ thuật. Văn chương hay bất cứ nghệ thuật nào đều từ hiện thực mà chưng cất nên; những gì neo vào trí nhớ đều được tác giả gọi tên, bản thân những cái tên đã chất chứa hiện thực, gợi về ngày xưa để rồi ai chạm phải đều thấy bùi ngùi. “Thời tóp mỡ” đưa các thế hệ trở về với những ngày “tóp mỡ mỏng dính mà nâng đỡ cả những cơn đói nặng nề”. Ngoài kia, có những người “cả năm mới thấy mặt giãn ra”, họ vẫn còn sống và nhớ như in những dịp Tết cả xóm đụng lợn ở cái sân tập thể nghèo khó… Họ đã đi qua những mùa đông đầy dư vị của cái thời thiếu đủ thứ, đủ thì vẫn đủ.
Thời gian là chuyến tàu “không khứ hồi”, càng về ga cuối người đi càng trầm ngâm, hay “ngoái lại”. Có ký ức theo ta, có ký ức bỏ đi giữa chừng, cuộc sống thay đổi, không ít lần nhà báo Trần Nhật Minh làm thằng bé “đứng nhìn ngẩn ra như sợ họ mang đi hết những hương vị…” Đời người hữu hạn, quanh đi quẩn lại “bỗng một lúc chạm lên mái tóc thấy sương khói phủ ngày một dày, chợt nao nao ngẫm ngợi những vẻ riêng không cần tô vẽ…”
Tôi đọc “Miền sau cánh cửa” hay “Những cuộc trà trên căn gác cũ” đều đọc với ý nghĩ đi tìm những câu văn hay viết về ký ức, thời điểm mà cảm xúc của người viết ở vào hồi cao trào nhất. Khi câu văn kéo tâm trạng chùng xuống thì cả người viết và người đọc đều bộc lộ cảm xúc rất tự nhiên. Cái hay của văn phong là sự vỡ ra của chữ trong cảm xúc người viết, và người đọc nhận ra được cái hay đó khi đọc bằng cảm xúc. Ví dụ: “Phía sau là dằng dặc những buổi chiều lạnh lắm khi bờ tường rêu in bóng mẹ thập thững đi về, ngọn đèn chốc lát sẽ được thắp lên, khe khẽ sáng một vùng ấm bình an… Ở đó, có những thứ nho nhỏ không tên khó lẫn vào ầm ào, hoành tráng khiến con người ta cứ phải trắc ẩn nghĩ, trắc ẩn nhớ, trắc ẩn thương yêu và trân trọng…” (Thời tóp mỡ).
Là người ưa xê dịch, dù đang ngược “Địa đầu” hay xuôi về “Đất Mũi” anh vẫn thấy cuồng chân. Trong ấn tượng của anh, mọi thứ không tách biệt khỏi đời sống, một đời sống vốn chứa đựng nhiều sắc thái của hiện thực và cảm xúc. Tôi có thói quen bôi đậm những câu văn đặc tả về tâm trạng và nhận ra điều khiến văn phong của Trần Nhật Minh trở nên đặc biệt, cái đặc biệt tồn tại trong những câu chữ tự thân; xuất phát từ nghĩ thật, lời thật, nỗi buồn thật. Đàn ông nói thật là khi họ bắt được điều chạm vào cảm xúc và tất nhiên, phải trả họ về với cô đơn. Chiều 30 Tết, một mình ngồi với cốc bia nhìn người, xe tất tả; những đám đông ùn lại rồi tản ra… Phố trong anh vẫn thế, khi đông đúc khi chỉ còn lại tiếng kẻng đổ rác nhắc nhỏm đi về. Ngắm những giọt bia li ti nổi lên miệng cốc thoăn thoắt, có gì đó dẫn dắt anh tiếp tục khắc khoải về phận chữ, phận người.
Và có lẽ vì thế, nhà báo Trần Nhật Minh làm thơ. Cho tới bây giờ, có một nỗi buồn của quá khứ và thực tại vẫn phong kín anh. Màu của ký ức khi bảng lảng như đi ngang qua một người xa lạ, khi rặt những ngôn từ đỉnh điểm của cơn say. Ở đó, “có những ngày” hiếm hoi nhưng đắt giá, con thú hoang trong anh tỉnh giấc, nó cần những khoảng bung để tìm thấy tự do và không điều gì có thể chuyển tải những “cơn hoang” kịp thời hơn thơ:
Có những ngày cần hát lên
điệu thức từ lâu ngưng tiếng
sương mịt mù
khói sặc âm u
và những lạnh lùng cướp mất mùa thu
Có những ngày cần gieo vần thơ mới
trên những tàn tro
ta lại nhích thêm từng giây sự sống
giữa bờ bến hoang mang thèm một tiếng gọi đò
(Có những ngày)
Ẩn trong cái khắc khoải, “oi bức” của chữ nghĩa là cái xộc xệch, bụi bặm của kẻ sĩ, kẻ vì “thơ” mà nuôi râu dài, cạo trọc đầu. Khác với những câu văn nhuốm khói, bàng bạc thời gian, ở đây những câu thơ lại chậm rãi, tì miết. Cảm xúc được thuật lại, ở đó dằng dặc những cơn cớ, nói ít gợi nhiều, có lúc phó mặc cho cảm xúc cuốn đi, chấp nhận làm “một lá lưu đày”:
Em bỏ lại giấc mơ
Như lá trút
Năm vợi tháng
Tháng vợi ngày
Anh vời vợi
Vệt heo may
Rớt cùng lá biếc
Những đường gân bạc màu
Trên những phiến say
Trong giấc mơ em
Anh – một lá lưu đày
(Lá)
Khi đã tìm thấy “khoảng bung” của cảm xúc thì có lý do gì để ta không hoá thành một cơn lũ và sau tất cả sẽ trở về làm một con suối hiền lành để yêu em:
Muốn ào vào rừng hoang
gọi tên Em căng tràn lồng ngực
rồi im lặng
một mình róc rách
suối thầm thì hẹn những mùa trăng
(Im lặng)
Nhà thơ Thụy Kha, trong những ngày cuối đời đã nhắc tới nhà báo Trần Nhật Minh với những câu từ đầy thấu hiểu: “Cái thằng đó cân lên chỉ toàn nước mắt.” Có phải ý anh Thụy Kha muốn nói tác giả “mau nước mắt”? Tôi nghĩ, hãy để những câu thơ viết về Mẹ trả lời – những câu thơ buồn như gió thổi mặt trời đi trong những buổi chiều hoang lạnh:
Súng bom ngưng rồi
tiếng vọng còn rung lòng Mẹ
chiến tranh tàn như là bóng tối
người lính đi khuất phía mặt trời
Cuộc sinh nở nào không nước mắt
Mẹ khóc lúc sinh con
giờ lại khóc
mảnh đất hồi sinh
không có anh về
Mẹ tóc trắng đi qua cát trắng
trĩu một nhành hoa trắng trên tay
các anh nghỉ giấc yên trong nắng cháy
dáng mẹ rưng rưng vun khẽ khóm xương rồng./.
(Một nhành hoa trắng)
Và cuối cùng, sau bao câu từ, thơ tứ vẫn còn đó một nỗi cô đơn, một nỗi buồn tãi dọc theo những năm tháng mà anh đã sống và xê dịch vì nghề, vì chữ nghĩa. Ngày nhìn lại nhà báo, nhà văn ấy có gì, được gì, nhớ gì, quên gì…? Có lẽ, lại phải để những câu thơ tiếp lời:
Những đồ đạc đơn sơ của tháng năm nghèo
Tiếng hát mãi xanh lá cây buồn héo
Trên đất cằn cỏ úa im reo
Những đồ đạc chất chồng xao xuyến
Nghe tiếng mưa trên mái ưu phiền
Vùng tóc bạc níu sợi xanh lưu luyến
Ta chả có gì chỉ ký ức mang theo.
(Ký ức)
—-
Tác giả: Nhà văn Trang Thuỵ
Nguồn: Văn nghệ công an/ Báo Công an nhân dân
NHÀ BÁO TRẦN NHẬT MINH: “TA CHẢ CÓ GÌ CHỈ KÝ ỨC MANG THEO”