79. CHÙM THƠ DỰ THI CỦA ĐÀO HỒNG TỬ

Chùm thơ của Đào Hồng Tử là cuộc đối thoại lặng sâu giữa ký ức chiến tranh và đời sống hậu chiến, nơi người lính, hạt lúa, mảnh đất cùng cất tiếng nói. Thơ giàu hình ảnh, tiết chế cảm xúc, không bi lụy mà day dứt, gợi suy tư về hòa bình, hy sinh và sự tiếp nối bền bỉ của đất nước.

Đào Hồng Tử (Nguyễn Thị Phương Dung, sinh năm 1991) là gương mặt thơ trẻ với giọng điệu nữ tính nhưng giàu chiều sâu lịch sử và nhân văn. Hiện đang sống và làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh, Đào Hồng Tử vừa xuất bản tập thơ “Lửa cháy dưới cằm trời” năm 2025.

GIỮA HAI MIỀN KHÓI SÁNG

Tôi bay về giữa một chiều quê lạ
Đường lụa nào cắt ngang cánh đồng sâu?
Cánh diều giấy lạc bên đàn chim sắt
Mái lá chìm dưới phố lớn cao lầu.
Tôi ngỡ ngàng trong bóng chiều non tuổi
Bước vào đâu cũng thấy lạ
thấy quen
Phố dựng chợ trên đồng xưa trơ trụi
Lũy tre xanh rút bóng sau hàng đèn.
Lối rừng đỏ bệnh viện chen chân mọc
Chỗ cắm cờ phượng rực rỡ mùa thơ
Dưới nắng mật tiếng trẻ râm ran đọc
Lẫn trong gió rì rào những giấc mơ.
Không còn súng. Không còn ai đứng gác
Không hành quân. Gạo cũng nhẹ sương rừng
Trống hội rộn: dội vào từng ngách cũ
Hay khúc quân ca… lạc giữa tưng bừng?
Tôi hóa đất cùng màu xanh trẻ mãi
Ngực còn thơm mùi áo trận chưa sờn
Đồng đội tôi: có người tim hoang hoải
Có người nằm mặc cỏ phủ xanh rờn.
Nửa thế kỷ đắp tro tàn lửa nguội
Giấc mơ xưa cháy một sắc sao vàng
Người từng ngã để cờ kia phấp phới
Có nghe trong đất động một nhịp vang?
Tôi lơ lửng giữa hai miền khói sáng
Gửi thân bay trong một giấc nhiều màu
Bao giờ ngủ… hồn tôi xin được lặn
Về căn hầm, đất mặn, áo vải nâu?
Bao giờ tỉnh để tay tôi lần đất
Chạm hòa bình: không súng, chẳng đao gươm?
Có ai gọi… cho tôi xin một giấc
Giữa mùa xuân… nghe đất thở bình thường.

TIẾNG CHUÔNG GÁC CỔNG

Anh về nhà với bàn tay chai sạn
Vết đạn bom không in trên thịt da
Tiếng chuông ngân mượn gió trên cánh nhạn
Có dẫn đường cho lữ khách từng qua?
Người lính xanh để súng lại chiến trường
Giấc mơ cũ nhòe dần theo gió suối
Bếp lửa hồng hong tro tàn đạn lửa
Nơi rừng thiêng… ai đó đã ngủ chưa?!
Câu chuyện xưa cũng loang lổ máu nguội
Tựa mảnh xương sót lại giữa lòng đêm
Từng hơi thở rít lên từ ngực xước
Khói lụi dần… hun nhèm những cái tên.
Anh sống sót nhờ nửa thân tê dại
Nửa rớt lại gửi đại ngàn trông coi
Hồi chuông xa còn ngân vang vọng mãi
Có lật nghiêng… như tiếng pháo dội trời?
Sớm hôm nay luống cải vừa đâm chồi
Bầy dế nâu chẳng buồn kiện lũ sẻ
Bọn trẻ nhỏ giấu nếp cười trong nắng
Soi tim mình… sẹo đâu còn tỉ tê.
Không nghi lễ cũng chẳng cần huân chương
Chỉ một mái nhà một bàn tay ấm
Để anh biết đời vẫn như ngày thường
Vẫn chuông ngân, vẫn sen thắm. Đủ đầy.

LỜI CỦA LÚA

Ta đã mơ
những giấc mơ mang hình hài xanh biếc
bên kia bùn đen.
Cánh bướm lửa đạn
bao lần xé toạc giấc chiêm bao
ta chưa kịp cháy
nơi chái bếp bà vừa hun khói.
Chẳng ai biết
từng thân ta vỡ nát trong vắt cơm mẹ gói
thấm máu rồi
vẫn mặn chát
một bữa no
cho áo xanh còn thở.
Tiếng súng chát chúa
ta ngã xuống chân ngọn mạ non cấy dở.
Những đứa con
nhuộm xanh ta bằng hồn người ký thác.
Mẹ nâng ta bằng mưa đỏ. Nắng rát.
Cha đem ta nuôi rừng khát. Sắt nung.
Ta run
trong tiếng gọi lạc từ bụng đất. Đồng hoang.
Khi hoà bình rắc xuống
ta vỡ thành nụ cười chan bát canh rau
hạt cơm trắng nuôi giấc ngủ sâu trên mi mắt nhân loại.
Mẻ rượu Tết thơm lừng, mẹ vẫn chờ tiếng ai đó gọi về.
Một ngày đông qua
bầy bồ câu gật gù trên gác xếp
trộm thân ta
gieo vào mắt gió
khắp vùng trời quê hương.
Bên kia đại dương
nào ai biết
một mầm xanh đất từng nuốt
vẫn tự xẻ thịt
vươn lên ngọc trời.
Từ Cuba nắng rót
qua Ghana lửa ấm cơm chung
đến “xứ cờ hoa”
ta vẫn nằm trong chiếc bánh chưng kẻ tha phương.
Ngày mai
ta lại ướp đất, ướp người
ươm mầm hạt trấu nứt đôi.
Những linh hồn trong suốt
con đường làng gân guốc
rụng xuống thân ta
đâu chỉ mỗi chữ S
từng nằm nôi.
Giọt mồ hôi cha vẫn lăn dài trên trán đất.
Từ hạt cơm trắng
Đất Nước lại lớn lên
xanh như giấc mơ ngày mai.