136. THƠ DỰ THI CỦA LÝ HỮU LƯƠNG

Nhà thơ Lý Hữu Lương (sinh năm 1988), người Dao, quê Trấn Yên – Yên Bái, hiện công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Anh là gương mặt thơ giàu bản sắc văn hóa tộc người, với giọng điệu lắng sâu, ám ảnh bởi ký ức núi rừng, và phận người miền cao.

Các tác phẩm đã xuất bản: Người đàn bà cõng trăng đỉnh Cô-san, Bình nguyên đỏ, Mùa biển lặng, Yao… cho thấy hành trình bền bỉ của nhà thơ miền núi này.
Chùm thơ dự thi tiếp tục khẳng định một tiếng nói trầm tĩnh, giàu suy tưởng, nơi thơ không chỉ là cảm xúc mà còn là ký ức được gìn giữ. 

Lý Hữu Lương được nhiều giải thưởng quan trọng:

Giải thưởng Văn học nghệ thuật, báo chí 5 năm của Bộ Quốc phòng (2014-2019); Giải thưởng Tác giả trẻ lần thứ nhất của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2021; Giải A cuộc thi “Thơ ca và nguồn cội” của Hội thơ Làng Chùa năm 2025…

BÀI THƠ CHO EM TÔI

(Gửi em T., chiến sĩ Công an L.C)

T., em ơi, chúng ta là hai người lính
Hai sắc phục cùng chung một mái nhà
Giữa đời thường bao lần gió ngược
Ta mỉm cười khi ngồi nhớ thương nhau
Anh hình dung em ra khỏi chân đèo
Mẹ trông theo sắc áo cỏ lần khuất
Nhìn lại hoa đã bông đỏ cao hơn mái
Để Bàn Mai co quắp giữa đỉnh trời…
Dáng núi ấy hao hao bao phận người
Mỏng mảnh lạ xa đỉnh trời gió hú
Mưa đến, gió đến bóng em vội đến
Ôi em thương như thể mẹ cha mình
Trên nếp áo hằng ngày ta vẫn mặc
Nhiều lắng lo, chuyện dân, chuyện nước
Chắn nắng che giông nhận phần lửa bỏng
Kéo tay mình ngày càng xa quê hương…
Em ơi, ta sẽ hẹn về đám cấp sắc ấy
Nhìn lũ em phơ phới lễ trưởng thành
Lại dạy chúng cách đi xa tìm vùng chân thật
Học cách tổ tiên truyền giọng giữ giống nòi
Trên ban thờ em sẽ cài vài bông cỏ đỏ
Anh sẽ dâng lên vài câu thơ nho nhỏ
Sáng đầu năm cùng quỳ lạy tiên tổ
Lẩm nhẩm nhắc trang lịch sử tộc người…

ĐÊM MẮT THÚ

Đêm ấy đêm gì? Đêm mắt thú
Chập chờn ảo ảnh suốt đời tôi
Tôi cố soi vào bí mật của đêm ấy
Bằng thứ hoa ánh sáng diệu kì củi lửa
Những hạt vừng nhỏ bay lên tung toé
Chầm chậm chảy vào mũi nỏ trên tay
Ngoái đầu lại, cha nói: Trời đầy bóng tối
Đáy đêm sâu và dầy như mùi lông cháy
Người im lặng cúi luồn qua cửa bếp
Lấp vào bóng tổ tiên đứng đó tự bao giờ
Cha cùng bao đàn ông ở núi này
Mắt lõm sâu đêm đêm say mắt thú
Lẫy nỏ tách tên lao xuyên bóng tối
Hái về những câu chuyện rừng thiêng
Tôi đang thiêm thiếp bên bếp lửa
Nghe mơ màng một điệu páo dung
Lòng vừa “ề” theo một tiếng
Chợt nghe vách đêm rơi cái rùng mình
Là cú quẫy giật cuối cùng lộng rất sắc
Một phận thú lìa xa thế giới
Móng gõ vào đêm cơn xúc động cuối cùng

Tôi mang dằn vặt ra khỏi ngọn núi ấy
Trong thơ chỉ nói về mây sắc trắng
Giấu trong ngực từng cơn lo ngại
Ơi người Dao còn những đêm mắt thú?

TRỞ VỀ

Kiêu hãnh nhường kia là bếp lửa mẹ ta
Ánh sáng canh giữ linh hồn núi xanh núi đỏ
Sân nhà ươn ướt đám mây con đáp xuống
Chẳng phải thơ đâu chỉ tím sắc vừng
Tiếng người huýt sáo cong cả dáng rừng
Con chó săn nhỏ cứ lao lên phía trước
Gặp con tần ngần như đứng trước dâu bể
Lối về nhà vẫn đầy dấu chân trâu
Chắc mẹ nguôi giận ngày con đi
Chân ra khỏi núi thì quên mang lời dặn
Người ta đi sắp bể xây nguồn
Con loay hoay đời phu tìm lộc chữ
Thưa mẹ, có thể con quên mang nhiều thứ
Nhưng không quên cô gái người Dao mình
Trở về theo con nhận mặt tiên tổ
Sinh những đứa con biết tiếng, biết nguồn
Con về lại vào khe bắc nguồn nước mới
Cô gái ấy quét tước sân sau xới vườn đậu nhỏ
Nuôi đàn gà con trông không cho quạ mổ
Quên nỗi bên trời tiếng gió lao xao
Mẹ ơi, con chỉ là đứa trẻ của Bàn Mai
Ngóng cửa đợi mùa xuân lưu luyến ấy
Chờ người thắp đuốc dắt vào trong núi
Hình như nhà Mo đêm nay mở đám hát
Con lại ngồi nghe những lời ca xưa cũ
Người Dao ta không biết chữ
Người Dao ta không biết buồn…