Chùm thơ là cuộc đối thoại lặng lẽ nhưng bền bỉ giữa con người với nguồn cội, với lửa thử thách và với hành trình tự hồi sinh của chính mình. Từ không khí Tết làng quê, hình ảnh người bà, người lính cứu hỏa, đến người đàn bà đi qua đổ vỡ, thơ giữ giọng điềm tĩnh, giàu suy tư, tránh bi lụy mà vẫn thấm sâu. Ngôn ngữ giản dị, hình ảnh chọn lọc, cảm xúc chảy ngầm, tạo nên một mạch thơ nhân văn, ấm áp, hướng về sự sống, niềm tin và khả năng đứng dậy của con người sau mọi biến động.
Tống Ngọc Hân (sinh 1976, Phú Thọ) là nhà văn nữ đương đại tiêu biểu với bút pháp sâu sắc, giàu bản sắc miền núi và đời sống con người vùng cao biên giới. Chị gắn bó hơn hai mươi năm với Tây Bắc, tạo nên vùng đất hư cấu Lưỡng Giang trong nhiều tác phẩm như Âm binh và lá ngón, Động rừng, Huyết ngọc…, đặt nhân vật vào những xung đột giữa truyền thống, bất an và khát vọng bình yên. Chị là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, đoạt nhiều giải thưởng văn học quốc gia và khu vực, văn của chị thấm đẫm nhân văn và hiện thực đời sống. Tiểu thuyết “Người lạ cùng huyết thống” của chị vừa được giải B cuộc thi viết tiểu thuyết truyện và ký về đề tài “Vì An ninh tổ quốc và bình yên cuộc sống” do Bộ Công an và Hội Nhà văn tổ chức.
VỀ NƠI NGUỒN CỘI
Quê mình bây giờ rộng lắm
Liệu xuân có biết đường sang?
Có thấy cây nêu rực rỡ
Sáng nay bỗng mọc giữa làng?
Ngổn ngang sau ngày sáp nhập
Bà ngỡ lẫn tên cả rồi
Bỗng nhiên lại vanh vách thuộc
Làng anh, làng chị, làng tôi
Bình yên vốn là nô nức
Gái trai ngày mạ xuống đồng
Bà xòe tay đếm mùa vụ
Lại quên tuổi mình như không
Năm nào bà cũng hỏi anh
“Tết rồi sao chưa được nghỉ
Công an, hay là thức, ngủ
Đều phải theo lịch cơ quan?”
Bà đón giao thừa bên lửa
Gió xuân rón rén đến ngồi
Khói lượn ba vòng năm cũ
Nhẹ thênh bay vào đất trời
Dòng nhựa âm thầm chảy ngược
Vấp đâu thì cũng bật chồi
Thiên di, chính là một chuyến
Về nơi nguồn cội, bà ơi!
SỐNG CHUNG VỚI LỬA
(Tặng chiến sỹ Ngọc Hoàng, Đội PCCC Công an quận Đống Đa)
Lính cứu hỏa đón xuân
chắc là vẫn diện bộ đồ màu cam
màu của bình an
tự tin trước lửa
Bao người trắng tay vì lửa
Bao đứa trẻ côi cút vì lửa
Bao uất hận sinh ra từ lửa
Cứu hỏa là dập lửa
Cứu hỏa là cứu người
Có một ngày
tôi nhìn thấy
anh ấy nhọ nhem, chệnh choạng
bước ra từ ngôi nhà ngun ngút cháy
như một vị thần
Trên lưng anh là một cậu bé
tựa như khúc ruột của tôi…
Không có lửa
nhân loại không có gì cả
Anh ấy là lính cứu hỏa
như thanh thép được rèn từ lửa
Trong cháy nổ
sinh mệnh người là tòa tháp
xây bằng thép bền
xây bằng sự hy sinh
và cả đức tin
Mùa xuân của đời người là tuổi trẻ
Tuổi xuân của lính cứu hỏa
Sống chung với lửa!
HỒI SINH
Dựa vào nắng, nắng dần nhạt
Dựa vào mây, mây bay đi
Dựa vào tháng năm, tháng năm vùn vụt
Dựa vào thơ, cũng có lúc ngoảnh mặt ơ hờ
Có lúc, em tự hỏi mình
sao em không dựa vào anh
Dựa vào những đồng điệu, sẻ chia một thời từng có
Tận cùng của chênh vênh là không dựa vào ai cả
Tự dựa vào chính em và mái tóc đã bạc mấy phần
Em mò mẫm, từng bước, đi qua những gian nan
Cửa tử, cửa sinh, luân hồi mở, khép
Trái tim không vì lớp lớp sẹo chồng mà bất chấp
Mỗi nhịp đập vẫn rộn ràng hướng đến phía ngày mai
Mùa đông xứ Bắc thường cố kéo thật dài
Những cơn gió chạy điên cuồng, hun hút
Người đàn bà nhón đi, bởi đôi gót chân đầy vết nứt
Vẫn thon thót sợ mình lún vào vết xe đổ người xưa
Chúng ta như hai bờ của dòng nước trôi xa
bỏ lại cánh đồng và nỗi hoài nghi, cả hai, có khi nào cùng lở
nên nước nặng phù sa và nước thành nần nợ
Nhân duyên như dòng sâu, sóng ở đáy sông hồ
Giữa chúng mình, có thật chỉ là những câu thơ
Dẫu đủ thấm thía nhau, cũng dễ gì ràng buộc
Nhưng em biết, trong cõi trăm năm tỉnh thức
Bóng đêm sẽ tan nhanh khi ngóng đợi bình minh
Thời thế xoay vần, hai người chung một cuộc tất niên
Ngôi làng ấy, nơi anh hứa sẽ đưa em tới
Từng xa xôi biết bao, giờ bỗng dưng gần lại
Thản nhiên vui, hàn huyên chuyện “vật đổi sao dời”
Tiệc tan, bàn tay em, như cầm ngọn đuốc vừa khơi
Rọi vào ký ức để hồi sinh hàng lối
Những lời đau lòng chưa từng nói ra, xem như tóc rối
Giắt trên nhành rào trái tim
Thơ như dải mưa mềm vừa giăng biếc hàng hiên…